“Cà” và “Kê” trong “Con cà con kê” là gì?

“Con cà con kê” được hiểu nghĩa đen thế nào?

Theo chúng tôi, Con cà con kê (dị bản Cà kê dê ngỗng) là chuyện lan man, dông dài, hết chuyện này sang chuyện khác, không liên quan gì đến nhau, không theo chủ đề nào, giống như từ chuyện “cây cà” chuyển sang chuyện “cây kê”; từ “dê” lại sang chuyện “ngỗng”, dù “cà” với “kê”, “dê” với “ngỗng” là những giống loài hoàn toàn khác nhau, vốn chẳng dính dáng, liên quan gì đến nhau.

Tuy nhiên, thành ngữ nói “con cà”, chứ đâu nói “cây cà”? Điều này có thể giải thích được, bởi ở Thanh Hóa hiện vẫn còn gọi giống cây trồng là “con”. Ví dụ: Ông ấy có nghề làm con rau (tức làm giống rau), đi chợ bán con rau, mua vài bó con cải về trồng; vụ này trồng được vài trăm con cà... “Con”, trong “con cải”, “con cà” và “con kê”,... ở đây đơn giản là chỉ cây con, cây giống.

Dẫn chứng trên đây có thể khó tin với đa số độc giả, bởi vì ngay cả chúng tôi khi tra cứu hàng chục cuốn từ điển tiếng Việt (kể cả từ điển phương ngữ) biên soạn ở cả hai miền Nam, Bắc trước và sau 1975, cũng thấy các nhà biên soạn cho chữ “con” tới 9 nghĩa, nhưng không có nghĩa nào chỉ về cây cối. Tuy nhiên, một từ không có trong từ điển, không có nghĩa nó chưa từng tồn tại trong thực tế.

May thay và thật thú vị khi Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - Trung tâm từ điển học Vietlex), một cuốn từ điển sinh sau đẻ muộn (xuất bản lần đầu năm 2007) đã thu thập “con” (danh từ) và xếp vào diện “id” (ít dùng) với nghĩa phái sinh chỉ giống cây, cây nhỏ mới mọc, như sau: “con [id] cây nhỏ mới mọc, thường dùng để cấy trồng, gây giống: cấy khoảng vài trăm con rau ~ mua mấy trăm con giống về trồng”. Và Đại Nam quấc âm tự vị (Huình-Tịnh Paulus Của), mục “con thuốc” cũng giảng là “cây thuốc mới ương, mới mọc”.

Như vậy trong tiếng Việt, “cây giống” còn được gọi là “con giống”; giống rau còn gọi là con rau: con giống cà, con giống kê, con giống cải, hoặc nói gọn là con cà, con kê, con cải...

Dị bản Cà kê dê ngỗng cho chúng ta thêm bằng cứ để khẳng định Con cà con kê không thể “đều là gà”(1). Bởi nếu “đều là gà”, thì dị bản “cà kê, dê ngỗng” phải là “cà kê, dê dương” (dương 羊 chữ Hán nghĩa là dê) mới đúng với nghĩa nói quanh quẩn, hết chuyện cà (gà) rồi lại quay lại gà, hết chuyện dê rồi lại quay lại chuyện dương.

Về cách hiểu nghĩa đen là “quả cà” và “bông kê” “nhiều hột” của Lê Gia cũng khó thuyết phục, bởi nghĩa bóng thành ngữ không nói về “sự nhiều việc, nhiều chuyện xảy ra”. Và, nếu hiểu là tỉ mẩn, chậm chạp, lâu xong (như ý PGS.TS Phạm Văn Tình và Nhóm Hoàng Văn Hành phân tích) cũng không thỏa đáng(2). Vì công đoạn gieo mạ, nhổ mạ, gánh mạ ra đồng, rồi cấy từng khóm lúa một, với diện tích hàng mẫu ruộng trong canh tác lúa nước mới đáng gọi là tỉ mẩn, chậm chạp, lâu xong. Trong khi cà và kê là hai loại cây trồng mà xưa kia chủ yếu tự cung tự cấp, mỗi nhà chỉ trồng một vài thước đất, tranh thủ chốc lát là xong, đâu có điển hình cho sự “mất nhiều thời gian”, “kéo dài mãi như không dứt”?

Với “giả thiết” mà GS.TS Đỗ Thị Kim Liên nêu ra: “cà: cây cà; kê: cây kê; đến tháng ba, người dân đi đâu cũng bàn tới chuyện trồng cà, trồng kê, cây cà, cây kê”, cũng không phù hợp với cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vì cà, kê chưa bao giờ là cây trồng chính, khiến cho đến thời vụ “người dân đi đâu cũng bàn tới chuyện trồng...”. Hoặc giả, nếu quả có “bàn” như vậy thì đó là bàn chuyện đồng áng, cấy trồng một cách sôi nổi và có chủ đề chuyên sâu, chứ đâu phải “lan man, dông dài, hết chuyện này sang chuyện khác” (như chính GS.TS Đỗ Thị Kim Liên đã giảng nghĩa của Con cà con kê).

Như vậy, con cà, con kê; hay con dê, con ngỗng ở đây đều là những sự vật quen thuộc, nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không có gì lạ, hay đặc sắc; chẳng khác nào những câu chuyện vãn, chuyện phiếm, chuyện vặt, không có chủ đề, cốt giết thời giờ rảnh rỗi. Vì là chuyện gẫu (gặp đâu nói đó) nên đặc điểm của “con cà con kê” là chuyện không đầu không cuối, từ chủ đề này chuyển sang chủ đề khác lúc nào không hay. Mặt khác, chính bối cảnh nhàn rỗi, chẳng có gì thúc bách về thời gian đã tạo nên tính chất rề rà của chuyện “con cà con kê”, chứ không phải việc trồng cà, trồng kê tỉ mẩn, rề rà, chậm chạp, lâu xong, nên mới thành nghĩa đen.

Đến đây chúng tôi cũng mạnh dạn loại trừ thuyết cho rằng, cà kê vốn là “ca kệ” trong đạo Phật, hay caquet được “nhập cảng”, rồi chuyển nghĩa ba hoa của ca-kê trong tiếng Pháp, thành “cà kê”, rồi “con cà con kê” trong tiếng Việt.

Hoàng Tuấn Công (CTV)

Chú thích:

(1) Dị bản Cà kê dê ngỗng được nhiều từ điển ghi nhận, trong đó có cuốn Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức xuất bản tại Sài Gòn trước 1975.

(2) Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (Hoàng Văn Hành chủ biên - Viện Ngôn ngữ, NXB Khoa học xã hội, 2002)

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/ca-va-ke-trong-con-ca-con-ke-la-gi-45868.htm