Các nhóm giải pháp giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn cho hệ thống ngân hàng.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang)

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang)

Thảo luận tại tổ về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đại biểu Quốc hội Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang) dành nhiều sự quan tâm đến khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn tín dụng của doanh nghiệp. Theo đại biểu, trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế, việc khơi thông dòng vốn không thể chỉ dựa vào các giải pháp mở rộng nguồn cung mà cần tháo gỡ đồng bộ những rào cản từ thể chế, môi trường kinh doanh đến năng lực của chính doanh nghiệp.

Từ thực tiễn hoạt động ngân hàng, đại biểu dẫn chứng Agribank đã triển khai 10 chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với tổng quy mô trên 520 nghìn tỷ đồng. Đây là nỗ lực cụ thể nhằm hỗ trợ khu vực doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn về số lượng, có vai trò quan trọng trong tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, theo đại biểu Hà, thực tế cho thấy khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn tín dụng của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận đầy đủ những nguyên nhân cản trở dòng vốn, thay vì chỉ tập trung vào khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng.

Tăng cung vốn chưa đủ để doanh nghiệp tiếp cận tín dụng

Phân tích những khó khăn trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, đại biểu Nguyễn Việt Hà cho biết hệ thống ngân hàng đang chịu nhiều áp lực trong huy động vốn, ổn định mặt bằng lãi suất và bảo đảm thanh khoản. Cùng với đó là yêu cầu phải hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống.

Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp điều hành chính sách tiền tệ nhằm tạo điều kiện mở rộng tín dụng; đồng thời điều chỉnh các quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, tạo thêm dư địa cấp tín dụng, đặc biệt đối với một số lĩnh vực ưu tiên và các dự án trọng điểm có tính lan tỏa.

Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng cũng đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng ưu đãi, hướng dòng vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Dù vậy, đại biểu Hà chỉ rõ những hạn chế trong khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn của doanh nghiệp không chỉ xuất phát từ yêu cầu kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng. Những biến động của môi trường kinh doanh, bất cập về thể chế, pháp lý dự án, thị trường đầu ra cũng như năng lực tài chính và quản trị của doanh nghiệp đều có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận vốn tín dụng.

Theo đại biểu, muốn khơi thông hiệu quả dòng vốn tín dụng, cần chuyển trọng tâm từ giải pháp tăng cung vốn đơn thuần sang tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn cản trở dòng vốn đến được những khu vực sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Từ nhận định này, đại biểu đề xuất trước hết phải nâng cao hiệu quả cung ứng tín dụng trên cơ sở bảo đảm an toàn hệ thống. Các tổ chức tín dụng cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa quy trình, khai thác hiệu quả dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian thẩm định và giải ngân. Đồng thời, cần thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực và quy mô doanh nghiệp, qua đó tạo thuận lợi hơn cho khách hàng tiếp cận vốn.

Tuy nhiên, đại biểu đặc biệt lưu ý: “Đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ chuẩn tín dụng”. Việc mở rộng cho vay phải luôn đi đôi với nâng cao chất lượng thẩm định, tăng cường quản trị rủi ro và kiểm soát chất lượng tín dụng.

Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là cải thiện tốc độ và hiệu quả cung ứng vốn, mà còn phải bảo đảm các khoản tín dụng được xem xét, giải ngân trên cơ sở đánh giá đầy đủ năng lực khách hàng và khả năng trả nợ, phù hợp với yêu cầu an toàn hoạt động ngân hàng.

Gỡ điểm nghẽn dữ liệu, pháp lý để dòng vốn đi vào sản xuất

Một trong những giải pháp được đại biểu Nguyễn Việt Hà nhấn mạnh là hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và cơ chế đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm khi xem xét cấp tín dụng.

Theo đại biểu, hiện nay, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn thiếu báo cáo tài chính minh bạch, thiếu dữ liệu chứng minh dòng tiền và năng lực trả nợ, trong khi tài sản bảo đảm hạn chế. Đây là những rào cản ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Để khắc phục tình trạng này, đại biểu đề nghị hoàn thiện các quy định về hình thành, chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu doanh nghiệp từ nhiều nguồn, bao gồm dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử, tài chính, dòng tiền và tình trạng tuân thủ pháp luật.

Cùng với xây dựng hạ tầng dữ liệu, cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc cung cấp, cập nhật, bảo đảm tính chính xác và bảo vệ dữ liệu. Đây là những điều kiện cần thiết để hình thành hệ thống thông tin có độ tin cậy cao, phục vụ việc đánh giá khách hàng vay vốn.

Trên cơ sở đó, đại biểu kiến nghị phát triển hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng dựa nhiều hơn vào dòng tiền, hiệu quả hoạt động, lịch sử tín dụng và năng lực trả nợ khi thẩm định khoản vay, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.

Đại biểu cho rằng đây là hướng đi quan trọng để mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, nhưng vẫn phải kiểm soát được rủi ro tín dụng.

Bên cạnh những hạn chế về dữ liệu và năng lực chứng minh khả năng trả nợ, đại biểu Hà cũng đề cập các điểm nghẽn thể chế đang làm giảm khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Theo đó, cần tập trung tháo gỡ vướng mắc liên quan đến đất đai, thủ tục đầu tư, pháp lý dự án, giải phóng mặt bằng, cơ chế giá và hợp đồng đầu ra. Những vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm đối với các lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn như hạ tầng, năng lượng, khu công nghiệp, nhà ở xã hội và các dự án xanh.

Đại biểu chỉ rõ, khi dự án chưa hoàn thiện pháp lý, chưa đủ điều kiện triển khai hoặc chưa xác định được dòng tiền, việc ngân hàng có nguồn vốn cũng chưa đồng nghĩa với việc có thể giải ngân.

Từ thực tế đó, việc tháo gỡ các vướng mắc về thể chế và điều kiện triển khai dự án có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng chuyển hóa nhu cầu vốn thành các khoản tín dụng thực tế. Nếu những điều kiện cần thiết của dự án chưa được đáp ứng, các giải pháp mở rộng nguồn cung vốn khó có thể phát huy đầy đủ hiệu quả.

Cùng với xử lý các vướng mắc pháp lý, đại biểu đề nghị phát triển thị trường mua bán nợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và các chủ thể tham gia thị trường.

Theo đại biểu, giải pháp này nhằm giải phóng những nguồn lực đang bị đình trệ, cải thiện khả năng quay vòng vốn và tạo thêm dư địa cấp tín dụng cho nền kinh tế.

Những kiến nghị về hạ tầng dữ liệu, cơ chế đánh giá tín nhiệm, tháo gỡ pháp lý dự án và phát triển thị trường mua bán nợ được đại biểu đặt trong yêu cầu chung là nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn, tạo điều kiện để tín dụng đến được với các hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả mà vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro.

Không thể để tín dụng ngân hàng gánh phần lớn nhu cầu vốn

Bên cạnh các giải pháp từ phía hệ thống ngân hàng và cơ chế chính sách, đại biểu Nguyễn Việt Hà cho rằng việc nâng cao năng lực nội tại của doanh nghiệp cũng là điều kiện quan trọng để cải thiện khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn tín dụng.

Theo đại biểu, khả năng tiếp cận vốn không chỉ phụ thuộc vào phía ngân hàng mà còn phụ thuộc vào sức khỏe tài chính và chất lượng dự án của bên vay. Vì vậy, cùng với cải thiện điều kiện cung ứng tín dụng, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường.

Đại biểu cũng đề nghị thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các chuỗi cung ứng trong nước, quốc tế. Đồng thời, cần đặc biệt chú trọng tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, có khả năng dự báo, khuyến khích hoạt động đầu tư và đổi mới sáng tạo.

Theo đại biểu Hà, khi doanh nghiệp có thị trường đầu ra, có phương án kinh doanh khả thi và dòng tiền trả nợ bền vững, nhu cầu tín dụng thực chất mới có thể chuyển hóa thành khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.

Từ yêu cầu nâng cao năng lực của doanh nghiệp, đại biểu tiếp tục đặt vấn đề phát triển cân đối các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn đối với hệ thống ngân hàng.

“Về dài hạn, không thể để tín dụng ngân hàng tiếp tục gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc biệt là vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển”, đại biểu Nguyễn Việt Hà nhấn mạnh.

Để từng bước giải quyết vấn đề này, đại biểu kiến nghị phát triển thực chất thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư và quỹ hỗ trợ doanh nghiệp. Quá trình phát triển các kênh huy động vốn cần gắn với tăng cường minh bạch, củng cố kỷ luật thị trường và bảo vệ nhà đầu tư.

Việc phát triển cân đối các kênh cung ứng vốn được đại biểu đặt trong định hướng giảm dần sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, phát huy vai trò vốn mồi của Nhà nước để dẫn dắt, thu hút nguồn lực tư nhân và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với hoạt động đầu tư toàn xã hội.

Trần Hương

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/cac-nhom-giai-phap-giam-ap-luc-cung-ung-von-trung-dai-han-189213.html