Cần coi bình đẳng giới như một động lực tăng trưởng
Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, cho ý kiến về Báo cáo số 137/BC-CP của Chính phủ về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, một số ĐBQH nhấn mạnh, không nên xem bình đẳng giới như chính sách xã hội thuần túy mà phải coi đây là một động lực phát triển.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng
Bảo đảm công tác bình đẳng giới bền vững
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) ghi nhận những kết quả quan trọng trong công tác bình đẳng giới và cho rằng, những kết quả này đã góp phần khẳng định, Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia có nhiều tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng giới, thể hiện qua nhiều chỉ tiêu cụ thể.
Ví dụ, trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp tỉnh đạt 82,35%, vượt mục tiêu đề ra, cấp bộ đạt 59,16%, tiệm cận mục tiêu 60%; trong lĩnh vực kinh tế - lao động, tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đạt 52,1%, vượt mục tiêu 50%; trong lĩnh vực xã hội, tỷ lệ nạn nhân bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ đạt trên 90%, nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; trong lĩnh vực y tế, tỷ lệ tử vong mẹ giảm xuống 42/100.000 ca sinh, đạt mục tiêu đề ra…
Bên cạnh những kết quả tích cực, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga thống nhất với những tồn tại, hạn chế trong công tác bình đẳng giới được nêu trong báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra. Theo đại biểu, có 4 vấn đề cần được nhìn nhận sâu hơn, bởi đây không chỉ là những hạn chế trong tổ chức thực hiện mà còn là những vấn đề mang tính nền tảng, quyết định chất lượng và tính bền vững của công tác này.
Cụ thể, một số kết quả đạt được còn thiếu tính bền vững, chưa tạo nền tảng vững chắc ở cấp cơ sở; báo cáo chưa phân tích những nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới (như cấu trúc văn hóa - xã hội, định kiến giới, sự phân công vai trò đã ăn sâu trong đời sống); chất lượng dữ liệu và phương thức đánh giá dữ liệu chưa đầy đủ; tình trạng thiếu nguồn lực, thiếu cơ chế gắn trách nhiệm với kết quả thực hiện; phần lớn chính sách hiện nay vẫn tiếp cận giới theo hai nhóm nam và nữ, trong khi thực tiễn xã hội đã mở rộng hơn với cả những đối tượng người đồng giới và chuyển giới.
Từ những vấn đề nêu trên, đại biểu đề nghị, cần chuyển mạnh công tác bình đẳng giới từ tư duy khuyến khích sang tư duy ràng buộc trách nhiệm và Chính phủ tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân công, phân cấp, xác định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương đối với từng nhóm chỉ tiêu bình đẳng giới, nhất là các chỉ tiêu chưa đạt hoặc đạt thấp kéo dài.
Đại biểu đề nghị, cần xây dựng hệ thống dữ liệu giới đồng bộ, hiện đại và có khả năng phản ánh thực chất hơn. Tập trung đột phá vào cấp cơ sở và xử lý các nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới. Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và gắn bình đẳng giới với các mục tiêu phát triển quốc gia.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng lưu ý, việc bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác này phải được đánh giá theo kết quả đầu ra, mức độ tác động thực tế, tránh dàn trải, hình thức. Đồng thời, cần thay đổi cách tiếp cận: không xem bình đẳng giới chỉ là một chính sách xã hội thuần túy, mà phải coi đây là một động lực phát triển, gắn trực tiếp với chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, chất lượng quản trị và sự phát triển bền vững của đất nước. “Khi được đặt đúng vị trí trong chiến lược phát triển, bình đẳng giới sẽ không còn là phần việc riêng của một ngành hay một chương trình, mà trở thành yêu cầu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu rõ.

ĐBQH Trần Lan Phương (Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng
Đồng tình với quan điểm này, ĐBQH Trần Lan Phương (Hải Phòng) cho rằng, bình đẳng giới không còn chỉ là vấn đề an sinh mà phải được nhìn nhận là hiệu quả kinh tế. Đầu tư cho bình đẳng giới chính là đầu tư cho tăng trưởng. Đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu các gói hỗ trợ đặc thù như “tín dụng xanh cho phụ nữ” và “chuyển đổi số cho doanh nghiệp nữ”, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tiếp tục dành nguồn lực cho bình đẳng giới
ĐBQH Chamaleá Thị Thủy (Khánh Hòa) nhấn mạnh vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số không chỉ trong gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn trong phát triển kinh tế. “Việc hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển mô hình kinh tế và tạo điều kiện tham gia lãnh đạo sẽ giúp phát huy tiềm năng của nhóm đối tượng này, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững”. Đặt vấn đề này, đại biểu đề nghị, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số khởi nghiệp, phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, ngành nghề truyền thống, đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia vào các vị trí lãnh đạo tại địa phương.

ĐBQH Chamaleá Thị Thủy (Khánh Hòa) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh
Đại biểu Chamaleá Thị Thủy cũng đề nghị, Chính phủ tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các khu vực đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; quan tâm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, y tế giáo dục và các chương trình hỗ trợ sinh kế để giúp cho phụ nữ và trẻ em gái có cơ hội phát triển và giảm nghèo bền vững. Mở rộng hơn nữa mạng lưới địa chỉ tin cậy tại cộng đồng để hỗ trợ những nạn nhân bạo lực giới; triển khai rộng rãi các chương trình giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản tại các trường học, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa nhằm nâng cao nhận thức và giảm tỷ lệ sinh ở vị thành niên.
ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) nêu thực tế, việc tổ chức thực hiện chính sách về bình đẳng giới ở cơ sở còn hạn chế do nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu. Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới phần lớn kiêm nhiệm nên chưa phát huy đầy đủ vai trò tham mưu và triển khai chính sách. Công tác theo dõi, thống kê, tổng hợp số liệu cũng chưa đáp ứng yêu cầu quản lý; việc thu thập, phân tách và cập nhật dữ liệu còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho việc đánh giá kết quả và xây dựng giải pháp.

ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị các bộ, ngành Trung ương quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp, có tính đến yếu tố đặc thù của từng địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu và cập nhật kỹ năng lồng ghép giới cho đội ngũ cán bộ làm công tác này, qua đó nâng cao chất lượng tham mưu và hiệu quả thực thi chính sách.











