Cần mở rộng đối tượng 'người thân' được bảo vệ trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Đó là vấn đề quan trọng được Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Lý Tiết Hạnh đặt ra khi tham gia thảo luận tại tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vào chiều 4-8.
Khuyến khích cán bộ, người dân mạnh dạn đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực
Tham gia góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu (ĐB) Lý Tiết Hạnh - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, đánh giá cao việc bổ sung nhiều quy định mới mang tính tiến bộ, nhân văn, phù hợp với Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17-1-2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Theo ĐB Lý Tiết Hạnh, việc thể chế hóa chủ trương của Đảng sẽ tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích cán bộ, người dân mạnh dạn đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Theo đại biểu, việc thể chế hóa chủ trương của Đảng không chỉ tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích cán bộ, người dân mạnh dạn đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch và khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong thực thi công vụ.
Góp ý về quy định xác định “người thân” được bảo vệ tại khoản 10 của dự thảo luật, ĐB Hạnh cho rằng phạm vi hiện nay mới giới hạn ở những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự như vợ, chồng, cha, mẹ, con.
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người chịu tác động trực tiếp từ việc tố cáo, đấu tranh phòng, chống tham nhũng lại là các thành viên khác đang cùng sinh sống trong gia đình. Vì vậy, nếu chỉ giới hạn đối tượng theo quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân sẽ chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Do đó, ĐB Hạnh đề nghị mở rộng phạm vi người thân được bảo vệ theo hướng cho phép người tố cáo, người đấu tranh phòng, chống tham nhũng được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét bổ sung những cá nhân cần áp dụng biện pháp bảo vệ khi có liên quan trực tiếp đến vụ việc. Theo đại biểu, quy định này sẽ bảo đảm tốt hơn mục tiêu bảo vệ người đấu tranh và phù hợp với tinh thần của Quy định số 231-QĐ/TW.
Liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, ĐB Hạnh thống nhất với quy định bổ sung trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước trong trường hợp không áp dụng hoặc áp dụng không đúng, không kịp thời các biện pháp bảo vệ theo yêu cầu của người được bảo vệ.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng nếu đã mở rộng trách nhiệm bồi thường đối với người thân thì cũng cần đồng thời mở rộng phạm vi người thân được bảo vệ nhằm bảo đảm quyền con người và an toàn toàn diện cho người tố cáo cũng như những người có liên quan trực tiếp.
Đối với quy định về chi trả tiền bồi thường tại khoản 30 Điều 1 của dự thảo, ĐB Hạnh đề nghị Ban soạn thảo làm rõ cơ chế thực hiện đối với các khoản bồi thường được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người được bồi thường.
Đại biểu cũng bày tỏ băn khoăn với quy định sau 3 năm nếu người được bồi thường không nhận tiền thì khoản tiền này sẽ nộp trở lại ngân sách nhà nước, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan.
Theo ĐB Hạnh, khi Nhà nước đã xác định trách nhiệm bồi thường thì khoản tiền này đã trở thành tài sản hợp pháp của người được bồi thường. Vì vậy, cần quy định chặt chẽ hơn để bảo đảm quyền sở hữu của người dân, đồng thời làm rõ trường hợp người được bồi thường qua đời thì khoản tiền này có được xác định là tài sản thừa kế để những người thừa kế hợp pháp được nhận hay không.
Bảo đảm tính khả thi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Tham gia thảo luận, ĐB Bùi Quang Huy đánh giá cao việc dự thảo đã lấy người bị thiệt hại làm trung tâm với nhiều quy định tiến bộ như tăng mức tạm ứng kinh phí bồi thường, kéo dài thời hiệu khởi kiện ra tòa án và cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính...

ĐB Bùi Quang Huy đánh giá cao việc dự thảo đã lấy người bị thiệt hại làm trung tâm với nhiều quy định tiến bộ như tăng mức tạm ứng kinh phí bồi thường, kéo dài thời hiệu khởi kiện ra tòa án và cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính... Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Tuy nhiên, tại Điều 65 của dự thảo, đại biểu cho rằng các khái niệm như “lập công lớn” hay “hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn” đang được sử dụng làm căn cứ xem xét miễn trách nhiệm.
Theo đại biểu, nếu không cụ thể hóa các khái niệm này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất, thậm chí phát sinh tình trạng lạm dụng hoặc tùy tiện trong áp dụng. Vì vậy, đại biểu đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết để làm rõ các tiêu chí, bảo đảm thống nhất trong quá trình thực hiện.
ĐB Huy cũng đề nghị bổ sung quy định về bảo mật dữ liệu cá nhân đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường được nộp qua môi trường số. Theo đại biểu, cùng với chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số và cắt giảm hồ sơ giấy, cần quan tâm bảo vệ thông tin cá nhân bởi hồ sơ bồi thường của Nhà nước thường chứa nhiều dữ liệu nhạy cảm. Do đó, dự thảo cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ trong việc bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.
Liên quan đến thời hạn xác định thiệt hại tại Điều 45, ĐB Huy nhận định quy định thời hạn 10 ngày làm việc là khó khả thi đối với những trường hợp phải thực hiện giám định chuyên ngành như giám định tài chính, xây dựng, thương tật... do các cơ quan chuyên môn độc lập thực hiện. Trên thực tế, quá trình giám định thường kéo dài hơn thời hạn này.
Vì vậy, đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định không tính thời gian giám định của cơ quan chuyên môn độc lập vào thời hạn xác định thiệt hại, qua đó bảo đảm tính khả thi khi áp dụng.
Đối với quy định tại Điều 62 về chi trả tiền bồi thường trong thời hạn 2 ngày làm việc, ĐB Huy đánh giá đây là quy định tiến bộ, thể hiện tinh thần quyết liệt trong bảo đảm quyền lợi của người được bồi thường. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần nghiên cứu thêm cơ chế bảo đảm nguồn kinh phí, nhất là đối với cấp xã.
Trong trường hợp phát sinh khoản bồi thường lớn, nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp có thể ảnh hưởng đến nguồn dự phòng ngân sách và khả năng cân đối tài chính của địa phương. Vì vậy, cần bổ sung quy định để vừa bảo đảm việc chi trả kịp thời, vừa bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.
Đảm bảo tính minh bạch, thống nhất
Theo ĐB Đồng Ngọc Ba, quá trình thẩm tra dự thảo luật đã có nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận liên quan đến nguyên tắc áp dụng của luật trong mối quan hệ với các luật khác, đặc biệt là phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo đại biểu, đây chủ yếu là vấn đề kỹ thuật pháp lý nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với tính minh bạch và khả thi của pháp luật.

Theo ĐB Đồng Ngọc Ba, quá trình thẩm tra dự thảo luật đã có nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận liên quan đến nguyên tắc áp dụng của luật trong mối quan hệ với các luật khác, đặc biệt là phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Đại biểu phân tích, thời gian qua, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định là luật chuyên ngành, điều chỉnh thống nhất cả phạm vi trách nhiệm bồi thường và trình tự, thủ tục bồi thường. Theo đó, các luật khác về nguyên tắc không quy định khác với luật này. Tuy nhiên, thực tế sau khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành, một số luật như Luật Quản lý thuế, Luật Tố cáo... lại có quy định mở rộng hoặc khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường.
“Theo dự thảo lần này, Chính phủ đề xuất thay đổi cách tiếp cận khi chuyển Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước từ vị trí luật chuyên ngành sang luật chung đối với nội dung về phạm vi trách nhiệm bồi thường. Điều đó đồng nghĩa, nếu các luật chuyên ngành có quy định khác về phạm vi bồi thường thì sẽ ưu tiên áp dụng theo luật chuyên ngành”, ĐB Ba phân tích.
ĐB Ba cho rằng cách tiếp cận này cần được cân nhắc kỹ. Nếu vẫn giữ quy định theo hướng luật chung thì nên bổ sung tại Điều 17 quy định mở: “các trường hợp khác theo quy định của luật”. Quy định này sẽ bảo đảm tính minh bạch, giúp người dân và các chủ thể áp dụng pháp luật nhận biết đầy đủ các trường hợp được bồi thường, tránh hiểu rằng chỉ những trường hợp được liệt kê trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mới được áp dụng.
Tuy nhiên, ĐB Ba cũng cho biết Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp vẫn nghiêng về phương án giữ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là luật chuyên ngành đối với cả phạm vi trách nhiệm bồi thường và trình tự, thủ tục bồi thường nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật.
Theo đó, khi ban hành các luật khác có nội dung liên quan đến phạm vi bồi thường của Nhà nước thì cần đồng thời rà soát, sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tránh phát sinh chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình áp dụng.
Liên quan đến nội dung sửa đổi Điều 17 về trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực quản lý thuế và các khoản thu khác, đại biểu cho biết quy định hiện hành chỉ giới hạn ở 4 nhóm hành vi như áp thuế, truy thu, hoàn thuế và thu tiền sử dụng đất.
Tuy nhiên, với cách sửa đổi của dự thảo, nếu dẫn chiếu áp dụng theo Luật Quản lý thuế thì có thể được hiểu là mọi hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức trong hoạt động quản lý thuế gây thiệt hại cho người nộp thuế đều thuộc phạm vi bồi thường của Nhà nước.
ĐB Ba cho rằng, việc mở rộng phạm vi bồi thường sẽ bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại và thể hiện bước tiến trong bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, tính khả thi cần được cân nhắc kỹ, bởi lĩnh vực quản lý thuế có rất nhiều nhóm hành vi vi phạm với phạm vi điều chỉnh rộng, trong khi ở các lĩnh vực khác dự thảo vẫn lựa chọn, định danh cụ thể từng hành vi được bồi thường.












