Cần một kì thi quốc gia cho đào tạo y khoa

Đào tạo y khoa (bác sĩ) đang tồn tại nhiều bất cập, bộc lộ sự chồng chéo qua kì thi bác sĩ nội trú, kì thi chứng chỉ hành nghề. Điều này đòi hỏi sự cải cách đồng bộ và chuẩn mực bắt đầu từ một kì thi chuẩn quốc gia.

Ðầu vào khác nhau, bằng cấp giống nhau

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất được chỉ ra là sự thiếu đồng bộ về chuẩn đầu vào và đầu ra giữa các cơ sở đào tạo y. Thống kê cho thấy, có thời điểm, điểm tuyển sinh ngành y giữa các trường chênh lệch rất lớn, có trường điểm chuẩn trên 26/30 điểm nhưng có trường chỉ 11/30 điểm. Tuy nhiên, khi tốt nghiệp, sinh viên lại được cấp những văn bằng có giá trị pháp lí như nhau. Một hệ thống có đầu vào khác biệt sâu sắc thì không thể tạo ra đầu ra đồng nhất, nếu không có cơ chế kiểm soát chất lượng đủ mạnh.

 Sinh viên Trường ĐH Y dược, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hành lâm sàng. Ảnh: NTCC

Sinh viên Trường ĐH Y dược, ĐH Quốc gia Hà Nội thực hành lâm sàng. Ảnh: NTCC

Chính thực tế đó buộc cơ quan quản lí (Bộ GD&ĐT) phải đưa ra quy định về điểm sàn đối với nhóm ngành sức khỏe. Song, theo đánh giá, đây mới chỉ là giải pháp tình thế. Vấn đề cốt lõi là Việt Nam vẫn thiếu một chuẩn đào tạo y khoa thống nhất, được dẫn dắt bởi các cơ sở đào tạo có uy tín hàng đầu và được bảo chứng bằng các kì đánh giá độc lập mang tính quốc gia.

Đề xuất về kì thi riêng, thi nội trú hay cấp chứng chỉ hành nghề đều có chung một điểm nghẽn: thiếu một “nhạc trưởng” đủ thẩm quyền. Cải cách đào tạo y khoa vì thế phải được quyết định ở tầm quốc gia, với vai trò chủ trì rõ ràng của cơ quan quản lí nhà nước, thay vì trông chờ vào nỗ lực đơn lẻ của từng trường.

GS. Lê Ngọc Thành cho hay, từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là mô hình của Pháp, Mỹ và Nhật Bản cho thấy, điểm chung của các nền y học tiên tiến là kì thi quốc gia sau tốt nghiệp. Sau một chương trình đào tạo thống nhất, tất cả sinh viên đều phải trải qua một kì thi chung, được xếp hạng công khai để phân bổ vị trí thực tập và đào tạo chuyên sâu.

Ở Việt Nam, đào tạo bác sĩ nội trú hiện vẫn thiếu sự công nhận quốc tế, một phần do thời gian đào tạo ngắn, phần khác do chưa theo chuẩn chung. Trong khi đó, việc tổ chức thực hành lâm sàng lại đang bị “thả lỏng” do cơ sở không đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạ tầng, nhân lực và cơ cấu bệnh tật.

Từ góc độ chính sách, GS. Thành cho rằng, cần phân định rõ vai trò quản lí giữa các bộ. Bộ GD&ĐT quản lí văn bằng, nhưng chất lượng thực hành phải do Bộ Y tế thẩm định và chịu trách nhiệm. Việc cho phép tràn lan các cơ sở thực hành, thiếu kiểm soát, là một lỗ hổng lớn cần sớm được khắc phục.

Cần chính sách tầm quốc gia

Mô hình của Pháp được đánh giá là phù hợp với điều kiện Việt Nam: ba năm đào tạo khoa học cơ bản, ba năm lâm sàng, gắn chặt đào tạo với nghiên cứu khoa học ngay từ bậc ĐH, và đào tạo sau ĐH gắn trực tiếp với hệ thống bệnh viện. Việc cấp và duy trì chứng chỉ hành nghề cần được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Bộ Y tế và các hội nghề nghiệp thông qua cơ chế cập nhật kiến thức bắt buộc hằng năm.

GS.TS Trần Diệp Tuấn, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Y Dược TPHCM cho biết, nhiều quốc gia châu Âu từng duy trì mô hình đào tạo bác sĩ 6 năm liên tục, song hiện nay đã chuyển sang cấu trúc 3+3 (3 năm đào tạo cơ bản, 3 năm đào tạo lâm sàng). Trong khi đó, Việt Nam tiếp tục duy trì mô hình 6 năm truyền thống như một giải pháp quá độ kéo dài.

Theo GS. Tuấn, trong điều kiện hiện nay, mô hình 6+3+x (6 năm đào tạo cơ bản, 3 năm nội trú hoặc chuyên khoa và giai đoạn đào tạo chuyên sâu tiếp theo) có thể coi là phương án khả thi cho Việt Nam, song chỉ phát huy hiệu quả nếu được quy định rõ trong khung pháp lí quốc gia, thay vì để các cơ sở đào tạo tự diễn giải và triển khai.

Đặc biệt, GS. Trần Diệp Tuấn lưu ý sự nhập nhằng giữa vai trò của các hội nghề nghiệp và cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề. Ở các quốc gia phát triển, hội nghề nghiệp chỉ đảm nhiệm chức năng phát triển chuyên môn, trong khi việc cấp chứng chỉ hành nghề thuộc về các hội đồng chuyên môn do nhà nước thiết lập. Việc yêu cầu các hội nghề nghiệp hiện nay tham gia cấp chứng chỉ hành nghề là không phù hợp cả về năng lực lẫn chức năng pháp lí.

GS. Tuấn chia sẻ, phần lớn các quốc gia đều sử dụng một kì thi chuẩn hóa sau tốt nghiệp để phân loại và phân luồng đào tạo chuyên khoa. Theo GS. Tuấn, nếu tiếp tục để đào tạo y khoa vận hành theo cách phân mảnh, thiếu điều phối, hệ thống sẽ ngày càng suy yếu. Ngược lại, một thiết kế chính sách thống nhất, có tầm nhìn dài hạn và hội nhập quốc tế sẽ tạo ra đòn bẩy cho cả hệ thống giáo dục đào tạo và hệ thống y tế quốc gia.

GS.TS Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường ĐH Y Dược, ĐH Huế cho rằng, vấn đề của hệ thống đào tạo y khoa hiện nay không phải là mô hình 6 năm hay 3+3 mà chính là giai đoạn chuyển tiếp sau tốt nghiệp. Tại nhiều quốc gia phát triển, kết thúc đào tạo y khoa là kì thi quốc gia mang tính cấp phép, không phải kì thi tuyển nội trú.

Trong khi đó, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Việt Nam tồn tại sự lệch pha giữa nhóm sinh viên “đi thẳng” vào nội trú sau tốt nghiệp và nhóm phải thực hành một năm trước khi dự thi cấp phép hành nghề đa khoa.

Sự khác biệt này đặt ra câu hỏi về thời điểm và trách nhiệm pháp lí của bác sĩ nội trú năm thứ nhất. GS. Huy cho rằng, nếu tổ chức kì thi cấp phép hành nghề ngay sau khi tốt nghiệp, hệ thống sẽ được chuẩn hóa và giải quyết căn bản tình trạng lệch pha hiện nay.

Nghiêm Huê

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/can-mot-ki-thi-quoc-gia-cho-dao-tao-y-khoa-post1818804.tpo