Cân nhắc ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng, tránh tạo 'vách ngăn' trong chính sách giảm thuế
Thảo luận tại Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh) chiều 21/8 về dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp, các ĐBQH đồng tình với sự cần thiết ban hành chính sách, song đề nghị cân nhắc kỹ ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng. Các đại biểu đề xuất thiết kế cơ chế chuyển tiếp, giảm dần mức ưu đãi đối với doanh nghiệp có doanh thu vượt ngưỡng, thay vì quy định theo hướng vượt 10 tỷ đồng là mất toàn bộ ưu đãi.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh dự thảo luận tổ.
Nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp, giảm dần ưu đãi theo mức doanh thu
Tham gia ý kiến về dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp, các ĐBQH tỉnh Thanh Hóa và Tây Ninh đồng tình cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết và cho rằng chính sách giảm thuế được đề xuất tại thời điểm này là phù hợp, có ý nghĩa thiết thực, bởi tác động trực tiếp đến dòng tiền và nguồn lực của người kinh doanh, doanh nghiệp.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa Lê Đức Thái chủ trì thảo luận. Ảnh: Minh Khuê
Theo các đại biểu, khác với các chính sách hỗ trợ gián tiếp, việc giảm trực tiếp số thuế phải nộp sẽ làm tăng ngay nguồn lực còn lại của người nộp thuế. Với mức giảm 30% như đề xuất, đây là khoản hỗ trợ đáng kể, có thể được sử dụng để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, trả lương cho người lao động, đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường trong bối cảnh yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng đang đặt ra cao.
Tuy nhiên, các ĐBQH đề nghị tiếp tục nghiên cứu kỹ tiêu chí doanh thu và ngưỡng 10 tỷ đồng để xác định đối tượng được hưởng chính sách.
Theo ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh), sử dụng doanh thu làm tiêu chí có ưu điểm là đơn giản, dễ xác định và thuận lợi cho quản lý thuế, nhưng doanh thu chưa phản ánh đầy đủ khả năng sinh lời cũng như mức độ khó khăn của từng chủ thể. Đại biểu lấy ví dụ: “Một hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp có doanh thu 9 tỷ đồng trong lĩnh vực có biên lợi nhuận thấp có thể có năng lực tài chính rất khác so với một doanh nghiệp cùng mức doanh thu nhưng chi phí thấp, lợi nhuận cao. Ngược lại, một doanh nghiệp chỉ có doanh thu cao hơn ngưỡng 10 tỷ đồng một chút nhưng lợi nhuận thấp lại không thuộc diện được hưởng chính sách theo cách thiết kế hiện nay”.

ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Minh Khuê
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục đánh giá ngưỡng 10 tỷ đồng, có thể xem xét trong mối tương quan với từng nhóm ngành, lĩnh vực; đồng thời thiết kế tiêu chí theo hướng vừa bảo đảm đơn giản, thuận lợi trong thực hiện, vừa phản ánh phù hợp hơn quy mô và khả năng chịu đựng của đối tượng được hỗ trợ.
Đại biểu đặc biệt lưu ý nguy cơ hình thành “vách ngăn chính sách” nếu áp dụng ngưỡng cứng: doanh thu dưới hoặc bằng 10 tỷ đồng được giảm 30% thuế, nhưng chỉ cần vượt ngưỡng này thì không còn được hưởng ưu đãi. Cách thiết kế như vậy, theo đại biểu, có thể tạo tâm lý không muốn mở rộng quy mô hoặc phát sinh tình trạng chia nhỏ hoạt động để duy trì doanh thu dưới ngưỡng nhằm được hưởng chính sách.
“Điều cần hướng tới là khuyến khích hộ kinh doanh và doanh nghiệp phát triển, chứ không để chính sách vô tình tạo động lực khiến họ duy trì quy mô nhỏ để được hưởng ưu đãi”, đại biểu nhấn mạnh.
Do đó, đại biểu Phan Thị Mỹ Dung đề nghị nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp, theo đó mức ưu đãi có thể giảm dần khi doanh thu vượt ngưỡng thay vì áp dụng theo cách “được hoặc không được” một cách tuyệt đối. Chẳng hạn, nhóm dưới ngưỡng 10 tỷ đồng được hưởng mức ưu đãi cao hơn; khi doanh thu vượt ngưỡng, tùy từng khoảng doanh thu có thể áp dụng mức giảm thuế thấp dần. Cách thiết kế này sẽ bảo đảm công bằng hơn, minh bạch hơn, đồng thời tạo động lực để hộ kinh doanh, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô.
Đại biểu đề nghị Nghị quyết có thể giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế này trên cơ sở theo dõi thực tiễn và bảo đảm việc thực hiện chính sách thuận lợi, hiệu quả.

ĐBQH Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Minh Khuê
Đồng tình với quan điểm trên, ĐBQH Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) cho rằng, cần nghiên cứu cách thiết kế mức giảm thuế theo hướng có sự chuyển tiếp giữa các nhóm doanh thu, thay vì áp dụng một ngưỡng cứng khiến doanh nghiệp chỉ cần vượt ngưỡng là mất toàn bộ ưu đãi.
Theo đại biểu, có thể nghiên cứu cơ chế tương tự cách thiết kế các bậc thuế, tức là mức ưu đãi giảm dần khi doanh thu tăng lên. Chẳng hạn, nếu nhóm doanh thu đến 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế phải nộp thì nhóm có doanh thu từ trên 10 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng có thể được hưởng mức giảm thấp hơn, như 20%; nhóm từ trên 15 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng có thể tiếp tục giảm xuống mức thấp hơn nữa.
Đại biểu cho rằng cách thiết kế theo các khoảng doanh thu như vậy sẽ hợp lý hơn so với việc xác định một ranh giới tuyệt đối giữa “được hưởng” và “không được hưởng” chính sách. Qua đó, doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất, tăng doanh thu sẽ không rơi vào tình trạng chỉ vì vượt một mức doanh thu nhất định mà mất ngay toàn bộ ưu đãi.
Đại biểu Nguyễn Đình Xuân nhấn mạnh, việc ban hành chính sách giảm thuế là phù hợp, song cách thiết kế cần bảo đảm vừa hỗ trợ đúng đối tượng, vừa tránh tạo ra khoảng cách quá lớn giữa các nhóm doanh nghiệp ở sát ngưỡng doanh thu. Đồng thời, quan tâm đến những doanh nghiệp khó khăn nhưng không có thu nhập chịu thuế để được hưởng chính sách giảm thuế.
Giảm thuế phải tạo nguồn lực cho phát triển và “nuôi dưỡng nguồn thu”
Góp ý vào dự án Nghị quyết này, ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) cho rằng, cần xác định rõ bản chất kinh tế và mục tiêu của chính sách giảm thuế lần này. Nếu trong giai đoạn 2020 - 2021, các chính sách miễn, giảm thuế chủ yếu nhằm ứng phó với tác động của đại dịch Covid-19, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động và việc làm thì bối cảnh hiện nay đã khác. Chính sách lần này được đề xuất khi đất nước đang chủ động thúc đẩy tăng trưởng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội.

ĐBQH Bùi Văn Dũng (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Minh Khuê
Vì vậy, đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, nếu trước đây giảm thuế chủ yếu nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn thì lần này giảm thuế phải hướng mạnh hơn vào tạo nguồn lực cho phát triển. Giảm thuế sẽ làm tăng phần thu nhập được giữ lại của các chủ thể kinh doanh; nguồn lực đó có thể được bổ sung vào vốn lưu động, đầu tư và mở rộng sản xuất, từ đó tạo thêm doanh thu, việc làm và nguồn thu ngân sách. Do đó, theo đại biểu, không nên chỉ nhìn chính sách từ góc độ ngân sách giảm thu bao nhiêu mà cần đánh giá một đồng thuế được giảm có tạo ra thêm đầu tư, doanh thu và nguồn thu trong những năm tiếp theo hay không.
Liên quan trực tiếp đến ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng, đại biểu Bùi Văn Dũng cũng đề nghị đánh giá kỹ để tránh chính sách tạo tác động ngược. Đại biểu cơ bản thống nhất việc sử dụng doanh thu làm tiêu chí vì tương đối rõ ràng, thuận lợi cho quản lý và thực hiện, nhưng cho rằng cần làm rõ cơ sở kinh tế của việc áp dụng một ngưỡng chung, bởi cùng mức doanh thu 10 tỷ đồng nhưng khả năng sinh lời giữa các lĩnh vực thương mại, sản xuất và dịch vụ rất khác nhau.
Đặc biệt, đại biểu lưu ý đến “hiệu ứng ngưỡng”. Ví dụ, một chủ thể có doanh thu 9,9 tỷ đồng được giảm 30% số thuế phải nộp, nhưng nếu doanh thu chỉ tăng thêm một mức nhỏ, vượt 10 tỷ đồng và mất toàn bộ ưu đãi thì có thể làm phát sinh động cơ giữ doanh thu dưới ngưỡng hoặc chia nhỏ hoạt động kinh doanh.
“Mục tiêu của chính sách là khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển, không phải khuyến khích các chủ thể duy trì quy mô nhỏ để được hưởng ưu đãi” - ĐBQH Bùi Văn Dũng nhấn mạnh.
Từ đó, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục tính toán cơ sở xác định ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng, có cơ chế xử lý phù hợp đối với các trường hợp sát ngưỡng, đồng thời có biện pháp phòng ngừa việc chia tách hoạt động để hưởng chính sách.
Đại biểu cho rằng, có thể nhìn chính sách theo một quan hệ kinh tế tương đối rõ: Nhà nước giảm một phần thu trong ngắn hạn để tăng khả năng tích lũy của khu vực sản xuất, kinh doanh; từ đó thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng và mở rộng cơ sở thu trong trung và dài hạn. Nếu đạt được mục tiêu đó, đây không chỉ đơn thuần là một chính sách giảm thuế mà thực sự trở thành chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng và nuôi dưỡng nguồn thu.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu
Thảo luận nội dung về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) đề nghị cân nhắc kỹ việc sử dụng cụm từ “đảo nhân tạo” và từ “đảo” nói chung trong dự thảo Luật. Bởi, theo Công ước Luật Biển năm 1982 và pháp luật về biển của nước ta, đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao quanh, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước; phần đất chìm khi triều lên gọi là đảo chìm. Đây là thuật ngữ mang tính pháp lý quốc tế, rất nhạy cảm về chủ quyền và có thể tạo cách hiểu không mong muốn nếu áp dụng cho một dự án lấn biển gắn với đất liền. Thay vào đó, có thể sử dụng cụm từ “đất lấn biển” hoặc “đất được hình thành từ hoạt động lấn biển”, đồng thời phân định rõ quan hệ pháp lý giữa phần đất này với đất liền, kể cả trường hợp kết nối bằng cầu, để tránh vướng mắc khi áp dụng và tránh những cách hiểu ngoài ý muốn liên quan đến vấn đề chủ quyền, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Về nguyên tắc sở hữu đối với đất hình thành từ lấn biển, đại biểu Phan Thị Thùy Linh đề nghị dự thảo Luật xác lập rõ nguyên tắc: mọi diện tích đất mới hình thành từ hoạt động lấn biển thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất với quy định của Hiến pháp và Luật Đất đai hiện hành cũng như dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang được xây dựng song song. Đồng thời, bổ sung yêu cầu bắt buộc về đánh giá tác động môi trường, bảo đảm an toàn hàng hải, không cản trở dòng chảy tự nhiên, luồng giao thông đường thủy, và yêu cầu tuân thủ quy hoạch được phê duyệt theo Luật Quy hoạch, tránh tình trạng lấn biển tự phát, thiếu kiểm soát.
Đại biểu cũng đề nghị không quy định cứng trong Luật các ngưỡng như tổng mức đầu tư để được hưởng ưu đãi, hay tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà đầu tư chiến lược, mà nên thiết kế theo hướng nguyên tắc, giao Chính phủ quy định chi tiết và điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ. Thực tiễn giá cả, quy mô vốn đầu tư biến động liên tục, nếu quy định cứng trong Luật sẽ khó bảo đảm tính ổn định, khả thi lâu dài. Đồng thời, đối với loại hình dự án đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thực hiện kéo dài, kỹ thuật phức tạp như lấn biển, tôi cho rằng cần thiết phải có tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược đủ năng lực, đủ kinh nghiệm, tránh giao cho những chủ thể không đủ điều kiện triển khai, dẫn đến dự án dở dang, ảnh hưởng đến môi trường và an toàn khu vực ven biển.
