Cảng biển Việt Nam hướng tới xanh hóa, số hóa và kết nối chuỗi logistics
Chuyển đổi xanh, số hóa, tăng cường kết nối và phát triển chuỗi logistics đang là những yêu cầu đặt ra đối với ngành cảng biển Việt Nam, được tập trung thảo luận tại Hội nghị thường niên VPA 2026 tại Gia Lai.
Ngày 18-9, tại phường Quy Nhơn Nam, Hiệp hội Cảng biển Việt Nam tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 với chủ đề “Cảng biển Việt Nam: Chuyển đổi xanh - Vươn tới kỷ nguyên thịnh vượng”.

Lãnh đạo Hiệp hội Cảng biển Việt Nam chủ trì hội nghị. Ảnh: Đức Thụy
Dự hội nghị có: Phó Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam Nguyễn Đình Việt; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Nguyễn Hữu Quế; lãnh đạo Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, cùng các thành viên VPA.
Phát triển cảng gắn với hệ sinh thái logistics
Báo cáo tại hội nghị, ông Huỳnh Văn Cường - Chủ tịch Hiệp hội Cảng biển Việt Nam - cho biết: Giai đoạn 2020-2025, số hội viên VPA tăng 14%; sản lượng hàng hóa qua cảng biển tăng 19%, container tăng 31%. Năm 2025, các cảng hội viên đạt khoảng 530 triệu tấn hàng hóa và 24 triệu TEU.
Cùng với sự gia tăng về sản lượng, cạnh tranh giữa các cảng biển ngày càng dựa trên nhiều yếu tố, từ năng suất, độ tin cậy, chất lượng dịch vụ đến khả năng kết nối hậu phương, chi phí, dữ liệu và năng lực xanh.
Quy hoạch hệ thống cảng biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng mở ra dư địa để Việt Nam nâng cao năng lực trung chuyển, logistics và kết nối quốc tế.
Tuy nhiên, báo cáo VPA cũng chỉ ra một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết như: kết nối chưa đồng bộ giữa cảng với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, ICD, trung tâm logistics và khu công nghiệp; cơ chế giá dịch vụ, môi trường cạnh tranh; nạo vét, duy tu luồng tàu và vùng nước trước bến.
Đặc biệt, năng lực xanh hóa, số hóa và chuẩn hóa dữ liệu giữa các cảng chưa đồng đều; nguồn nhân lực và năng lực quản trị cần tiếp tục được nâng lên để đáp ứng yêu cầu của cảng xanh, cảng thông minh và chuỗi logistics hiện đại.

Chủ tịch Hiệp hội Cảng biển Việt Nam Huỳnh Văn Cường báo cáo tại hội nghị. Ảnh: Đức Thụy
Theo ông Huỳnh Văn Cường, trước những yêu cầu mới, Ban Chấp hành VPA khóa X xác định 3 vai trò cốt lõi của Hiệp hội gồm: đại diện, kết nối và kiến tạo.
Theo đó, VPA hướng tới trở thành tiếng nói có cơ sở dữ liệu, chuyên môn và tính xây dựng của cộng đồng cảng biển Việt Nam; kết nối không chỉ các cảng mà cả hệ sinh thái gồm hãng tàu, logistics, ICD, vận tải, công nghệ, năng lượng, đào tạo và nghiên cứu.
Đáng chú ý, VPA đặt mục tiêu chuyển từ việc phản ánh từng vấn đề sang đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống, chuẩn mực, dữ liệu và công cụ có thể áp dụng trong thực tế.
Qua đó, đưa Hiệp hội từ một tổ chức chủ yếu tập hợp cộng đồng trở thành tổ chức có năng lực kiến tạo giá trị cho hội viên và đóng góp thiết thực vào chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia.
Để cụ thể hóa định hướng này, VPA khóa X xác định 6 ưu tiên hành động đến năm 2030, gồm: chính sách, kết nối, cảng xanh, cảng thông minh, nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế.
Trong đó, VPA sẽ chủ động tham mưu, phản biện về quy hoạch, hạ tầng, giá dịch vụ, cạnh tranh, nạo vét, đầu tư, xanh hóa và số hóa trên cơ sở dữ liệu; thúc đẩy phát triển cảng gắn với các hành lang kinh tế, đường sắt, đường thủy, ICD và trung tâm logistics.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Đức Thụy
Ở lĩnh vực xanh và số, Hiệp hội tập trung vào quản lý năng lượng, giảm phát thải, điện hóa, điện bờ, năng lượng tái tạo, quan trắc và báo cáo phát thải; đồng thời khuyến khích số hóa, tự động hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), nền tảng cộng đồng cảng (PCS), chứng từ điện tử và chia sẻ dữ liệu ngành.
Tại hội nghị, đại diện các cảng biển và doanh nghiệp logistics đã trình bày nhiều tham luận, đề xuất giải pháp phát triển cảng biển theo hướng xanh, thông minh và kết nối hiệu quả với chuỗi logistics.
Trong đó, tập trung vào phát triển hạ tầng kết nối, giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI, IoT và tăng cường liên kết giữa cảng biển, hãng tàu, logistics, ICD, trung tâm phân phối và vùng sản xuất.
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Đình Việt - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam - cho rằng: Chuyển đổi xanh đang từng bước trở thành nội dung quan trọng trong quá trình phát triển cảng biển Việt Nam.

ông Nguyễn Đình Việt - Phó Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Đức Thụy
Theo ông, chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận tổng thể, gắn với hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả khai thác, không chỉ dừng ở đầu tư thiết bị, công nghệ hay sử dụng năng lượng phù hợp mà còn bao gồm đổi mới phương thức quản lý, tổ chức khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Cùng với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ được xác định là những động lực quan trọng để hiện đại hóa cảng biển. Việc số hóa quy trình, kết nối và chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ trong quản lý, khai thác sẽ góp phần nâng cao năng suất, giảm thời gian, chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ.
Cảng biển kết nối không gian kinh tế
Với tỉnh Gia Lai, Hội nghị VPA 2026 có ý nghĩa đặc biệt khi được tổ chức tại Quy Nhơn, trong không gian phát triển mới sau khi Gia Lai và Bình Định hợp nhất.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế nhấn mạnh, việc hợp nhất 2 tỉnh đã mở ra không gian phát triển mới, kết nối liền mạch vùng Tây Nguyên với dải bờ biển hơn 130 km, tạo điều kiện hình thành một không gian phát triển “rừng và biển”.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Đức Thụy
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh, với không gian phát triển trải dài từ vùng cao nguyên đến đồng bằng, ven biển và biển đảo, Gia Lai có điều kiện hình thành các chuỗi liên kết kinh tế theo hướng cao nguyên - đồng bằng - cảng biển.
Trong đó, khu vực cao nguyên có thế mạnh về nông - lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo và các giá trị văn hóa đặc sắc; khu vực ven biển có lợi thế về cảng biển, logistics, kinh tế biển, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đối với Gia Lai, cảng biển và logistics có vai trò quan trọng trong kết nối không gian kinh tế của tỉnh với thị trường trong nước và quốc tế.
Trong đó, Cảng Quy Nhơn có lịch sử hình thành, phát triển hơn 50 năm, là một trong những cảng biển quan trọng của khu vực miền Trung, có lợi thế về vị trí, luồng tàu và khả năng khai thác hàng hóa.
Cảng Quy Nhơn không chỉ phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu của tỉnh mà còn có vai trò kết nối khu vực Tây Nguyên với Biển Đông; đồng thời tạo điều kiện mở rộng giao thương với Nam Lào và Đông Bắc Campuchia thông qua các hành lang kinh tế Đông - Tây.

Hiệp hội Cảng biển Việt Nam trao chứng nhận hội viên mới. Ảnh: Đức Thụy
Thời gian qua, nhiều sản phẩm thế mạnh của khu vực cao nguyên như cà phê, cao su, gỗ, nông sản, khoáng sản và hàng công nghiệp chế biến được vận chuyển qua các tuyến QL 19, QL 25 và các tuyến kết nối đến Cảng Quy Nhơn để xuất nhập khẩu.
Sau khi hợp nhất tỉnh, việc quy hoạch, đầu tư và khai thác các tuyến kết nối trong cùng một không gian phát triển được kỳ vọng tạo thuận lợi để hình thành mạng lưới giao thông, logistics và dịch vụ hỗ trợ sản xuất, lưu thông hàng hóa đồng bộ, hiệu quả hơn.
Gia Lai xác định phát triển cảng biển, logistics gắn với công nghiệp chế biến, thương mại và kinh tế biển là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức lại không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Gia Lai sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nghiên cứu đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên địa bàn. Ảnh: Quang Tấn
Tỉnh đã hoàn thiện, phê duyệt quy hoạch tỉnh và định hướng phát triển hệ thống cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics, khu công nghiệp và các đầu mối trung chuyển hàng hóa phù hợp với nhu cầu phát triển.
Đồng thời, ưu tiên nguồn lực đầu tư, nâng cấp các tuyến giao thông kết nối vùng nguyên liệu, khu sản xuất với cảng biển; từng bước ứng dụng công nghệ số, thúc đẩy chuyển đổi xanh và nâng cao hiệu quả khai thác, chất lượng dịch vụ.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Quế cho biết, cùng với đầu tư kết cấu hạ tầng, Gia Lai chú trọng xây dựng hệ sinh thái logistics có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp sản xuất, vận tải, kho bãi, cảng biển, hãng tàu và các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu.
Mục tiêu là từng bước giảm chi phí, rút ngắn thời gian vận chuyển, nâng cao khả năng kết nối thị trường và giá trị hàng hóa, nhất là đối với nông - lâm sản và sản phẩm công nghiệp chế biến của khu vực Tây Nguyên.
Tỉnh cũng tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp; chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thuộc thẩm quyền; phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và địa phương liên quan để hoàn thiện cơ chế, chính sách, kết cấu hạ tầng và các điều kiện cần thiết cho phát triển cảng biển, logistics.
Gia Lai đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nghiên cứu đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ trên địa bàn theo đúng quy định pháp luật, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
Dịp này, Hiệp hội Cảng biển Việt Nam và đơn vị tài trợ đã hỗ trợ 200 triệu đồng cho thôn Vĩnh Hòa (xã Vĩnh Quang) và thôn Hà Ri (xã Vĩnh Thịnh), tỉnh Gia Lai; mỗi địa phương 100 triệu đồng.
Trao bảng tượng trưng hỗ trợ cho 2 thôn. Ảnh: Đức Thụy
Tại Hội nghị thường niên VPA 2026, tỉnh Gia Lai mong muốn Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, các cảng thành viên, doanh nghiệp logistics và đối tác tiếp tục đồng hành với tỉnh trong kết nối thị trường, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, công nghệ và phương thức khai thác hiện đại; hỗ trợ nghiên cứu, triển khai các giải pháp về cảng xanh, cảng thông minh, logistics xanh và chuyển đổi số.
Tỉnh cũng đề nghị tăng cường kết nối các doanh nghiệp thành viên của VPA với Cảng Quy Nhơn, các ngành, địa phương trong tỉnh, qua đó tạo thêm cơ hội hợp tác đầu tư và khai thác hiệu quả hạ tầng, dịch vụ logistics.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng cho biết, Gia Lai sẵn sàng trao đổi cụ thể với doanh nghiệp, nhà đầu tư, đối tác về từng dự án, nhu cầu kết nối; đồng thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp, hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và triển khai dự án theo quy định.
Với lợi thế kết nối vùng nguyên liệu rộng lớn của cao nguyên với không gian kinh tế biển, Gia Lai định hướng xây dựng quan hệ hợp tác thực chất, lâu dài, cùng có lợi; từng bước hình thành mạng lưới liên kết từ sản xuất - chế biến - logistics - cảng biển - thị trường, nâng cao giá trị hàng hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường liên kết vùng.


