Cánh cửa việc làm rộng mở với học sinh vùng khó

Học nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp đang mở thêm cơ hội việc làm cho học sinh vùng khó.

Đằng sau quyết định học nghề là mong muốn có một kỹ năng có thể đổi thành việc làm. (ảnh: NTCC)

Đằng sau quyết định học nghề là mong muốn có một kỹ năng có thể đổi thành việc làm. (ảnh: NTCC)

Nỗi lo “học xong làm gì?”

Ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, câu chuyện chọn nghề của học sinh thường bắt đầu bằng những tính toán rất đời thường. Điều kiện kinh tế gia đình hạn chế khiến việc theo đuổi một quá trình học tập kéo dài đồng nghĩa với thêm nhiều khoản chi phí. Bởi vậy, học sinh và phụ huynh không chỉ hỏi trường có nghề gì, mà còn muốn biết học trong bao lâu, học xong làm ở đâu và thu nhập có đủ để tự trang trải cuộc sống.

Em Lương Thị Phấn, học sinh lớp 12 ở Nghệ An, cho biết quá trình học nghề may giúp em không chỉ làm quen với máy móc, các thao tác kỹ thuật mà còn tự tin hơn khi nghĩ đến môi trường làm việc sau khi ra trường.

Còn Phùng Thị Trà My, học sinh lớp 12 ở Thanh Hóa, lựa chọn nghề thú y. Với My, những giờ thực hành và cơ hội tiếp xúc công việc thực tế giúp em hình dung rõ hơn mình có phù hợp với nghề hay không và sau tốt nghiệp có thể bắt đầu từ vị trí nào.

Những lựa chọn như vậy cho thấy điều người học cần không đơn thuần là một tấm bằng. Đằng sau quyết định học nghề là mong muốn khá rõ ràng: có một kỹ năng có thể đổi thành việc làm.

Ông Dương Vũ Nhật Đồng, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị, cho rằng, hiện việc tiếp cận trường nghề không phải là trở ngại lớn, bởi các cơ sở giáo dục nghề nghiệp luôn sẵn sàng tiếp nhận và tư vấn người học. Vấn đề quan trọng hơn là lựa chọn nghề nào để sau đào tạo có khả năng tìm được việc làm phù hợp.

Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị đang duy trì 14 ngành trình độ trung cấp, cao đẳng và 27 nghề trình độ sơ cấp. (ảnh: NTCC)

Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị đang duy trì 14 ngành trình độ trung cấp, cao đẳng và 27 nghề trình độ sơ cấp. (ảnh: NTCC)

Hiện mỗi năm Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị tuyển mới khoảng 700 chỉ tiêu hệ trung cấp, cao đẳng và đào tạo khoảng 2.500 - 3.000 học viên hệ sơ cấp theo nhu cầu.

Theo ông Đồng, khi tư vấn tuyển sinh, trường kết hợp mong muốn của người học với nhu cầu của thị trường lao động, trong đó nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp là một căn cứ quan trọng để định hướng phụ huynh và học sinh.

Cách tiếp cận này cũng phản ánh một thay đổi trong đào tạo nghề: thay vì đào tạo xong mới tìm đầu ra, thông tin về vị trí việc làm cần được đưa ngược trở lại quá trình tuyển sinh và xây dựng chương trình.

Một đại diện doanh nghiệp sản xuất sử dụng lao động kỹ thuật cho biết, điều doanh nghiệp quan tâm khi tiếp nhận học sinh trường nghề không hoàn toàn nằm ở tấm bằng.

“Có những em biết thao tác nhưng khi vào dây chuyền lại chưa quen với việc phải làm đúng quy trình, đúng thời gian và phối hợp với người khác. Doanh nghiệp vẫn phải dành thời gian hướng dẫn lại. Nếu thời gian thực tập đủ dài và nhà trường biết chính xác vị trí chúng tôi đang cần người để đào tạo thì cả hai bên đều đỡ mất thời gian”, vị này chia sẻ.

Theo đó, những yêu cầu tưởng như đơn giản như tuân thủ giờ giấc, sử dụng dụng cụ đúng quy định, đảm bảo an toàn, báo cáo khi thiết bị bất thường hay phối hợp với đồng nghiệp lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thích nghi và được giữ lại sau thời gian thử việc.

Để việc làm không chỉ là con số thống kê

Theo thống kê tại Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị, tỷ lệ học sinh, sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 85%. Mức thu nhập thấp nhất khoảng 6 triệu đồng/tháng, trong khi một số trường hợp có thể đạt khoảng 30 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, phía sau tỷ lệ có việc làm là một bài toán khác: người học làm việc ở đâu và sau khi trừ chi phí sinh hoạt còn tích lũy được bao nhiêu.

Ông Đồng cho rằng, với các tỉnh còn ít doanh nghiệp quy mô lớn, cơ hội việc làm tại chỗ chưa nhiều. Đây lại là điều rất quan trọng với con em gia đình khó khăn, bởi nhiều em mong muốn sau khi học xong có thể làm việc gần nhà để vừa có thu nhập, vừa hỗ trợ gia đình.

“Nếu đến thành phố lớn, thu nhập khoảng 10 triệu đồng nhưng phải trả tiền thuê trọ, ăn uống, đi lại thì số tiền còn lại không nhiều. Nếu cũng có mức thu nhập đó nhưng làm được tại địa phương, khả năng tích lũy sẽ tốt hơn”, ông Đồng phân tích.

Bởi vậy, với học sinh vùng khó, “có việc làm” chưa hẳn đã đủ. Một công việc chỉ thực sự tạo cơ hội thay đổi cuộc sống khi người lao động có thể duy trì lâu dài, có thu nhập ổn định và còn phần tích lũy sau các chi phí thiết yếu.

Ngoài thị trường lao động, đào tạo nghề vẫn đối mặt với khó khăn về thiết bị và đội ngũ giáo viên. Theo ông Đồng, trường nghề cần máy móc, cơ sở thực hành đủ gần với môi trường sản xuất, nhưng việc đầu tư và đổi mới thiết bị cần nguồn kinh phí lớn. Việc tuyển giáo viên vừa vững lý thuyết, vừa có tay nghề thực hành cũng không dễ, bởi lao động kỹ thuật giỏi thường có nhiều lựa chọn với mức thu nhập cao hơn ngoài doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, liên kết trường - doanh nghiệp không thể chỉ dừng lại ở những chuyến tham quan hay một kỳ thực tập cuối khóa.

Đại diện doanh nghiệp cho rằng, các đơn vị sử dụng lao động cũng cần thay đổi cách hợp tác. Nếu chỉ đến lúc thiếu vài chục công nhân mới liên hệ trường tìm người thì cơ sở đào tạo khó có thể điều chỉnh chương trình ngay lập tức. Doanh nghiệp cần dự báo sớm số lượng nhân lực, vị trí việc làm và kỹ năng tối thiểu để trường có cơ sở tổ chức đào tạo sát thực tế hơn.

Về phía Trường Cao đẳng nghề Quảng Trị, thay vì chỉ chờ các doanh nghiệp lớn tuyển số lượng lao động lớn, nhà trường mở rộng kết nối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, xí nghiệp, gara sửa chữa, xưởng tư nhân trên địa bàn. Với những ngành mà thị trường lao động trong tỉnh chưa đáp ứng đủ, trường liên kết doanh nghiệp ngoài tỉnh để đưa học sinh đi thực tập; một số đơn vị hỗ trợ kinh phí trong thời gian thực tập và tuyển dụng trực tiếp sau khi người học hoàn thành chương trình.

Với học sinh ở vùng khó, đích đến của học nghề suy cho cùng rất cụ thể: có kỹ năng mà thị trường cần, tìm được việc phù hợp và từng bước tự đứng vững bằng thu nhập của mình.

Vì vậy, hiệu quả của liên kết trường nghề - doanh nghiệp cũng không nên chỉ được tính bằng số thỏa thuận hợp tác hay số chuyến tham quan nhà máy. Thước đo thực chất hơn là có bao nhiêu học sinh được thực hành đúng nghề, được doanh nghiệp tiếp nhận, làm đúng công việc đã học và có thể gắn bó lâu dài.

Hà Trang

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/canh-cua-viec-lam-rong-mo-voi-hoc-sinh-vung-kho-post794658.html