Cạnh tranh thu hút FDI đòi hỏi chính sách hỗ trợ gắn với kết quả đầu ra
Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về đổi mới thu hút FDI, sửa đổi Luật Đất đai, quy hoạch không gian và tái cấu trúc không gian vùng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN
Sáng 1/11, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc sửa đổi luật nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng từ 10% trở lên, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài và bảo đảm chất lượng dòng vốn, nhất là mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, dự án luật được sửa đổi trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến gấp 2,21 lần giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân cần đạt bình quân 30-40 tỷ USD mỗi năm, cao gấp 6-7 lần so với giai đoạn trước.
Đây là một trong những lý do đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Bên cạnh đó, việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về đổi mới thu hút FDI, sửa đổi Luật Đất đai, quy hoạch không gian và tái cấu trúc không gian vùng.
Bộ trưởng nhấn mạnh cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia ngày càng gay gắt. Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang đưa ra chính sách ưu đãi đối với các lĩnh vực Việt Nam ưu tiên như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số. Bộ trưởng cho rằng Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút các dự án có chất lượng.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không chỉ là thu hút vốn với quy mô lớn mà còn phải bảo đảm hiệu quả thực chất. Theo đó, dự án luật đã quy định chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với những ngành, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Đáng chú ý, các chính sách hỗ trợ đầu tư cần gắn với kết quả đầu ra, có tiêu chí kiểm tra, giám sát và lượng hóa cụ thể. Bộ trưởng cho biết cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu tối đa ý kiến đại biểu theo hướng này; đồng thời nghiên cứu điều kiện chấm dứt hỗ trợ khi nhà đầu tư không đáp ứng các cam kết đã đưa ra.
Việc quy định rõ trách nhiệm và điều kiện chấm dứt ưu đãi cũng nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, vốn thường phức tạp.
Liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, trước đây, việc sửa đổi chủ yếu tập trung vào cắt giảm điều kiện kinh doanh, trong đó đã loại bỏ 62 ngành, nghề và cắt giảm 14 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, Bộ trưởng cho rằng cần tổng kết, đánh giá tổng thể để phân định rõ điều kiện đầu tư kinh doanh với điều kiện tiếp cận và gia nhập thị trường, bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Đầu tư với các luật liên quan, đồng thời nâng cao tính ổn định lâu dài của hệ thống pháp luật.
Về Quỹ đầu tư quốc gia, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết quỹ đang được triển khai trên cơ sở các quy định hiện hành và bước đầu hoạt động ổn định, có hiệu quả. Hằng năm, việc bổ sung dự toán cho quỹ sẽ thực hiện theo quy trình của Luật Ngân sách nhà nước; Chính phủ quyết định mức đầu tư tổng thể, địa phương quyết định hỗ trợ và cơ quan quản lý quỹ thực hiện cấp vốn.
Để tăng cường kiểm soát, bảo đảm sử dụng nguồn lực đúng mục đích và hiệu quả, Bộ trưởng đề nghị thực hiện kiểm toán nhà nước hằng năm đối với hoạt động của quỹ, đồng thời tiến hành thanh tra định kỳ.
Đối với các điều kiện tiếp cận thị trường thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ sẽ tổng hợp, báo cáo Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung theo trình tự, thủ tục rút gọn, bảo đảm đúng thẩm quyền và tiến độ.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ ý kiến đại biểu Quốc hội để hoàn thiện dự án luật, báo cáo Quốc hội xem xét, thông qua.
