Cao Bằng trong tầm nhìn mới: Phát triển bằng quy hoạch, kỷ luật và kết quả

Một tỉnh biên giới, miền núi, xuất phát điểm thấp, dân cư phân tán, hạ tầng còn yếu - nếu cứ đi theo cách cũ thì sẽ phát triển đến đâu? Đây là câu hỏi mà Quy hoạch tỉnh Cao Bằng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt ra cho chính mình, và câu trả lời được nêu khá rõ: không thể đi xa.

Nhiều năm qua, Cao Bằng có biên giới dài nhưng kinh tế cửa khẩu chưa đủ sức kéo cả nền kinh tế đi lên. Có thác Bản Giốc, Pác Bó, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng nhưng du lịch vẫn loanh quanh ở mức tiềm năng. Có rừng, dược liệu, nông sản đặc hữu nhưng phần lớn người dân sống gần rừng chưa giàu lên được từ rừng. Có khoáng sản nhưng khai thác thô để lại giá trị không nhiều cho địa phương. Vấn đề, theo cách đặt vấn đề của quy hoạch, không nằm ở chỗ thiếu lợi thế mà ở chỗ chưa biết kết nối các lợi thế rời rạc ấy lại với nhau.

Đó là lý do quy hoạch lần này tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển theo mô hình một vành đai, hai hành lang kinh tế, ba vùng phát triển, bốn trung tâm động lực, trong đó giao thông, cửa khẩu, du lịch, công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế rừng và chuyển đổi số được gắn vào nhau thay vì mỗi ngành chạy một hướng. Cách nhìn về tỉnh cũng đổi khác: từ một điểm cuối của các tuyến đường, Cao Bằng được đặt vào vị trí cửa ngõ nối Việt Nam, ASEAN với Quảng Tây và Tây Nam Trung Quốc; biên giới không còn là vùng xa xôi mà là không gian mở ra thương mại và du lịch; rừng không chỉ là diện tích cần bảo vệ mà là tài sản có thể sinh lời qua dược liệu, tín chỉ carbon, du lịch sinh thái.

Tuyến cao tốc từng bước hình thành, mở ra kỳ vọng lớn về thay đổi hạ tầng giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tuyến cao tốc từng bước hình thành, mở ra kỳ vọng lớn về thay đổi hạ tầng giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu và động lực

Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên, GRDP đầu người đạt 75 - 80 triệu đồng, dịch vụ và công nghiệp chiếm trên 80% cơ cấu kinh tế, kinh tế số đóng góp tối thiểu 20% GRDP, giảm nghèo đa chiều trên 3%/năm. Đây là những con số đòi hỏi nỗ lực lớn so với xuất phát điểm hiện tại của tỉnh. Nhiều địa phương trong vùng cũng đang dồn lực cho hành lang kinh tế, logistics, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, và đó là động lực để Cao Bằng đặt mục tiêu cao thay vì đi theo nhịp cũ - tiềm năng chỉ có giá trị khi được tổ chức thành dự án, sản phẩm, việc làm và nguồn thu cụ thể.

Bảy hướng đi

Giao thông là trục được ưu tiên hàng đầu. Cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Bắc Kạn - Cao Bằng cùng các tuyến kết nối trung tâm tỉnh được kỳ vọng giúp Cao Bằng thoát khỏi tình trạng bị chia cắt về địa lý bấy lâu nay. Nhưng bản thân con đường không tự tạo ra giá trị - nếu không có khu logistics, khu công nghiệp, đô thị cửa khẩu mọc lên dọc tuyến, cao tốc sẽ chỉ là nơi xe chạy qua, còn tỉnh vẫn đứng ngoài dòng chảy kinh tế mà con đường đó tạo ra. Đây là bài học đã xảy ra ở không ít địa phương khác.

Kinh tế cửa khẩu dựa vào hệ thống Trà Lĩnh, Tà Lùng, Sóc Giang, Lý Vạn - lợi thế mà không tỉnh nào khác trong vùng có được. Nhưng nếu chỉ dừng ở xuất nhập hàng thô và thông quan đơn giản, phần thu về cho ngân sách và doanh nghiệp địa phương sẽ không đáng kể. Quy hoạch đặt yêu cầu xây dựng cửa khẩu thông minh, hải quan số, trung tâm giao dịch thương mại biên giới, lấy Trà Lĩnh - Long Bang làm mũi đột phá và Tà Lùng làm trung tâm kinh tế cửa khẩu phía Đông Nam.

Du lịch sở hữu tài nguyên hiếm có nhưng đang bộc lộ những khoảng trống cụ thể: thiếu lưu trú chất lượng cao, thiếu trải nghiệm ban đêm, thiếu liên kết tour tuyến, nhân lực phục vụ còn mỏng. Hệ quả là khách đến rồi đi nhanh, mức chi tiêu tại chỗ thấp. Cảnh đẹp tự nhiên không đủ để làm nên một ngành kinh tế - cần có sản phẩm, có doanh nghiệp dẫn dắt, và cần chủ động mở liên kết vùng theo nhiều hướng: với các trung tâm gửi khách lớn như Hà Nội, với các điểm đến lân cận trong hành lang du lịch Đông - Tây Bắc, và với phía Quảng Tây qua các tuyến du lịch biên giới xuyên quốc gia. Càng nhiều tuyến kết nối được mở, du lịch càng có cơ hội giữ khách ở lại lâu hơn, tiêu nhiều hơn, thay vì chỉ là một mùa khách ngắn ngủi.

Nông nghiệp và kinh tế rừng đi theo hướng sản phẩm đặc hữu - thuốc lá, dong riềng, thạch đen, dược liệu, cây đặc sản - vì Cao Bằng không thể cạnh tranh bằng sản lượng như vùng đồng bằng. Điểm yếu cố hữu là sản xuất nhỏ lẻ, chế biến sâu ít, nông dân bán cái mình có chứ chưa sản xuất theo cái thị trường cần, dẫn đến vòng luẩn quẩn được mùa mất giá. Với rừng, bài toán đặt ra là làm sao để người giữ rừng có thu nhập tốt hơn từ chính khu rừng đó, thay vì chỉ bảo vệ bằng mệnh lệnh hành chính.

Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế hai con số.

Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế hai con số.

Công nghiệp được chọn theo hướng chế biến nông lâm sản, khoáng sản có kiểm soát, năng lượng sạch, gắn với cửa khẩu và cao tốc - không đánh đổi môi trường và nguồn nước để lấy tăng trưởng ngắn hạn. Về đô thị, mô hình đa tâm phù hợp với địa hình chia cắt của tỉnh, và sau các đợt thiên tai cực đoan gần đây, mỗi dự án đô thị mới đều phải được xét lại từ gốc: có nằm trong hành lang thoát lũ hay không, có gây thêm rủi ro sạt lở cho khu dân cư xung quanh hay không, chứ không chỉ tính đến vị trí thuận lợi cho xây dựng.

Con người, giáo dục và y tế được xác định là phần việc phải làm song song với hạ tầng, chứ không chờ làm sau. Tỉnh đang thiếu lao động chất lượng cao ở hầu hết các ngành mũi nhọn, trong khi người trẻ vẫn có xu hướng rời quê. Chuyển đổi số, ở trục cuối cùng, chỉ có ý nghĩa khi giúp bộ máy hành chính nhanh hơn và bớt phiền hà cho dân, chứ không dừng ở việc mua sắm phần mềm hay tổ chức hội nghị.

Thách thức lớn hơn con số tăng trưởng

Cái khó của Cao Bằng không chỉ nằm ở việc thiếu vốn, dù đây là rào cản đầu tiên và rõ nhất - một tỉnh còn nghèo không thể làm tất cả mọi việc cùng lúc, đầu tư dàn trải sẽ khiến công trình nào cũng khởi động nhưng không công trình nào đủ lực về đích. Giải phóng mặt bằng là nút thắt thứ hai, đòi hỏi minh bạch và bảo đảm sinh kế cho người bị thu hồi đất, nếu không sẽ kéo dài tiến độ hàng năm trời như đã từng xảy ra ở nhiều dự án hạ tầng trước đây.

Nhưng thách thức nặng nề nhất lại nằm ở chính bộ máy thực thi. Một bản quy hoạch dù thiết kế tốt đến đâu cũng sẽ chậm lại nếu cán bộ vẫn quen làm việc theo lối cũ - ngại va chạm, sợ trách nhiệm, chờ chỉ đạo từ cấp trên thay vì chủ động xử lý vướng mắc tại chỗ. Đây không phải là vấn đề năng lực chuyên môn đơn thuần mà là vấn đề văn hóa làm việc, cần thời gian và áp lực thay đổi liên tục mới có thể chuyển biến. Đi cùng với đó là bài toán thu hút nhà đầu tư thật sự có năng lực tài chính và kinh nghiệm vận hành, thay vì những dự án xin đất rồi để hoang - một tình trạng đã từng khiến quỹ đất công nghiệp của không ít tỉnh miền núi bị lãng phí nhiều năm.

Cuối cùng, niềm tin của người dân là yếu tố quyết định khả năng thực thi trên thực địa. Quy hoạch chỉ vận hành được khi người dân hiểu vùng mình sẽ phát triển theo hướng nào, đất đai sẽ bị ảnh hưởng ra sao, cơ hội việc làm mới nằm ở đâu. Một bản quy hoạch nằm trong hồ sơ cơ quan nhà nước mà không được giải thích rộng rãi thì khó tránh khỏi vướng mắc khi triển khai từng dự án cụ thể.

Việc cần làm ngay

Từ những phân tích trên, tỉnh xác định một loạt việc phải làm cụ thể thay vì dừng ở định hướng chung. Trước hết là chuyển quy hoạch thành danh mục dự án có thứ tự ưu tiên rõ ràng - dự án nào làm ngay, dự án nào cần vốn Trung ương, dự án nào để kêu gọi đầu tư tư nhân. Tiếp đó là dồn lực cho các công trình có sức lan tỏa thật sự: cao tốc, cửa khẩu Trà Lĩnh - Long Bang, Tà Lùng, các khu công nghiệp có khả năng lấp đầy, cụm du lịch Bản Giốc - Pác Bó - Non nước Cao Bằng.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa động viên, tặng quà các lực lượng thi công tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa động viên, tặng quà các lực lượng thi công tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh.

Tỉnh cũng cần xây dựng một cơ sở dữ liệu phát triển đủ tin cậy về đất đai, dự án, dân cư, doanh nghiệp - bởi một địa phương ít nguồn lực càng không có chỗ cho những quyết định dựa trên cảm tính. Hợp tác với Quảng Tây cần đi vào chi tiết từng dòng hàng, từng cửa khẩu thay vì dừng ở các thỏa thuận khung. Đào tạo nhân lực logistics, du lịch, công nghiệp phải gắn với doanh nghiệp thực tế thay vì chỉ tiêu đào tạo trên giấy. Và trong toàn bộ quá trình này, việc giữ rừng, giữ nguồn nước, giữ bản sắc văn hóa cần được coi như một ranh giới cứng đặt song song với các mục tiêu tăng trưởng, chứ không phải điều kiện có thể nới lỏng khi cần đẩy nhanh tiến độ dự án.

Quy hoạch không hứa một con đường dễ dàng. Việc bản đồ phát triển này có dẫn tới kết quả thực chất hay không sẽ phụ thuộc vào cách tổ chức thực hiện trong từng năm, từng dự án cụ thể - chứ không nằm ở bản thân văn bản đã được phê duyệt.

Lê Hải Hòa, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/cao-bang-trong-tam-nhin-moi-phat-trien-bang-quy-hoach-ky-luat-va-ket-qua-3189801.html