Nghị quyết 10-NQ/TW: Cách Việt Nam tự định vị mình trong Kỷ nguyên mới
Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển tư duy mạnh mẽ từ thu hút vốn FDI sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Kịp thời và cấp thiết
Năm 1988, khi Luật Đầu tư nước ngoài chính thức có hiệu lực, cũng là lúc Việt Nam chính thức mở cánh cửa ra với thế giới, đón những doanh nghiệp đầu tiên đầu tư, thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thổi một làn gió mới vào nền kinh tế Việt Nam đang “khát” vốn, “khát” việc làm. Với sự đồng hành của khu vực đầu tư nước ngoài, nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ, từng bước xây dựng vị thế quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu như hiện nay.
Gần 4 thập kỷ sau đó, nền kinh tế Việt Nam gặt hái nhiều thành tựu quan trọng, tạo bệ đỡ đưa đất nước bước vào Kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cũng đặt ra vấn đề công tác thu hút vốn FDI đòi hỏi sự theo kịp về mặt tư duy, nhận thức và hành động.
Trong bối cảnh đó, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, nhận định là hết sức phù hợp và kịp thời.
Lý giải cho nhận định này, theo ông Thắng, nếu ở giai đoạn đầu mở cửa thu hút đầu tư, FDI được thu hút nhằm mục đích cấp vốn, tạo việc làm cho nền kinh tế thì đến nay, Việt Nam đã có một vai trò và vị thế rất khác, mạnh mẽ hơn, quan trọng hơn với những dấu ấn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài: Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là hết sức phù hợp và kịp thời với yêu cầu của Kỷ nguyên mới. Ảnh: PS.
Sự thay đổi về nội lực cùng với những biến động mạnh mẽ về địa chính trị và xu thế dịch chuyển dòng vốn toàn cầu bắt buộc Việt Nam xác định lại quan điểm và mục tiêu chiến lược. Ở đó, vốn chỉ giúp cho tăng trưởng ngắn hạn, còn về dài hạn cần dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tất nhiên, Việt Nam vẫn rất cần vốn để thúc đẩy tăng trưởng. Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần tổng vốn đầu tư lên đến 38,5 triệu tỷ đồng trong 5 năm tới, trong đó 80% đến từ khu vực ngoài nhà nước.
Tuy nhiên, với vai trò và lợi thế riêng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, có rất nhiều doanh nghiệp quốc tế mong muốn đến Việt Nam để hợp tác, đầu tư, thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện đó, với những yêu cầu mới của thời đại, Việt Nam có quyền và cần phải lựa chọn những đối tác chiến lược phù hợp với tầm nhìn dài hạn.
Thay đổi về tư duy
Với bối cảnh mới, một nội dung quan trọng nhất được Nghị quyết 10-NQ/TW nhấn mạnh là bước chuyển từ tư duy “thu hút FDI” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”.
Tư duy này cho thấy, Việt Nam đánh giá hoạt động đầu tư nước ngoài không thông qua số vốn hay số lượng dự án mà tập trung vào những dự án có hiệu quả cao, đem theo công nghệ, tri thức quản trị, mạng lưới toàn cầu cũng như khả năng lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác.
Bỏ qua những tiêu chí về lượng để tập trung vào những tiêu chí về chất kéo theo những thay đổi mang tính căn bản về việc thiết kế chính sách ưu đãi thu hút đầu tư. Suốt nhiều năm nay, các địa phương thường đưa ra ưu đãi thuế, phí thuê đất, dẫn đến việc giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và có nguy cơ trở thành những “cuộc đua xuống đáy”.
...chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết 10-NQ/TW đưa ra quan điểm về lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI đến từ môi trường pháp lý minh bạch, thủ tục hành chính nhanh gọn, thuận tiện, chính sách thông thoáng, dễ dự báo, nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng hiện đại cũng như quy định pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, giải pháp hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài sẽ dựa trên hiệu quả hoạt động của dự án. Nghị quyết 10-NQ/TW yêu cầu xây dựng cơ chế hậu kiểm, qua đó có thể thu hồi những ưu đãi dành cho doanh nghiệp nếu không thực hiện theo cam kết.
Thực tế cho thấy, với những chính sách mới trên thế giới, đơn cử như thuế tối thiểu toàn cầu, ưu đãi về thuế không còn hấp dẫn nhà đầu tư. Thay vào đó, nhà đầu tư nước ngoài sẽ quan tâm hơn đến việc một thủ tục hành chính kéo dài trong bao lâu hay cần phải trải qua bao nhiêu bước để nhận được giấy chứng nhận đầu tư, để đưa dự án đi vào vận hành thông suốt.
Đổi mới cơ chế ưu đãi thu hút FDI dựa trên năng lực cạnh tranh vừa đóng vai trò giúp Việt Nam khẳng định và củng cố vị thế của mình trong chuỗi cung ứng, một điểm đến hấp dẫn bởi những yếu tố bền vững và minh bạch, vừa là bộ lọc khắt khe để lựa chọn dự án tư duy đầu tư nghiêm túc, chuẩn chỉ và tầm nhìn dài hạn.

Việt Nam có quyền lựa chọn đối tác đầu tư, dự án đầu tư công nghệ cao, thân thiện với môi trường và phù hợp với tầm nhìn dài hạn của đất nước. Ảnh: Hoàng Anh.
Quan điểm về ưu đãi, thu hút vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp FDI mà còn tạo tác động tới cả nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Bên cạnh việc được hưởng lợi từ môi trường kinh doanh thông thoáng, doanh nghiệp tư nhân còn tránh được sự cạnh tranh thiếu công bằng đến từ doanh nghiệp FDI được hưởng ưu đãi nhưng hoạt động không hiệu quả, sử dụng công nghệ lạc hậu, không tuân thủ những tiêu chuẩn về tính bền vững.
Một yếu tố quan trọng được ông Thắng nhấn mạnh, vốn đầu tư nước ngoài không chỉ là FDI mà còn các hình thức đầu tư gián tiếp như góp vốn, mua cổ phần, đầu tư vào các kênh tài chính mới như tài sản số hay thị trường tài chính xanh.
Nghị quyết 10-NQ/TW khái quát tất cả nguồn vốn đó vào một thực thể là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Những tư duy về thu hút vốn, ưu đãi, hỗ trợ cũng sẽ áp dụng cho cả những hình thức đầu tư gián tiếp, qua đó đưa Việt Nam trở thành trung tâm về sản xuất, đổi mới sáng tạo, công nghệ tài chính có vị thế ở cả trong khu vực và trên thế giới.
Có thể nói, với bước chuyển về tư duy trong Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam khẳng định tầm nhìn tận dụng mọi nguồn lực từ bên trong lẫn bên ngoài để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, đưa đất nước vươn mình trong Kỷ nguyên mới.
Doanh nghiệp tư nhân là trọng tâm
Giao điểm giữa Nghị quyết 10-NQ/TW với chủ trương phát triển khu vực kinh tế nội địa được thể hiện rõ nét qua mục tiêu “phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I”.
Theo ông Thắng, đây là lần đầu tiên phát triển doanh nghiệp nội địa được đưa thành một mục tiêu mang tính trung tâm của chính sách đầu tư nước ngoài. Thành công của khu vực đầu tư nước ngoài sẽ được đo bằng số lượng doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, được chuyển giao công nghệ, cọ sát với thế giới để tự mình đứng vững.
Chúng ta yếu về vốn, yếu về kỹ thuật, không đáp ứng được nhân lực chất lượng cao, lại còn vướng phải thủ tục hành chính gây mất thời gian thì nghiễm nhiên nhà đầu tư nước ngoài phải “mang theo” các nhà cung ứng của họ
TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài
Trên thực tế, yếu tố liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn là một điểm yếu tồn tại suốt nhiều năm qua. Sau gần 40 năm có sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp Việt vẫn đứng ngoài lề chuỗi giá trị của các tập đoàn lớn.
Đơn cử, dù trở thành cứ điểm lắp ráp của nhiều hãng ô tô lớn trên thế giới như Honda, Ford, Hyundai…, tỷ lệ nội địa hóa của ngành ô tô Việt Nam chỉ ở mức 20%, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia.
Nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nhận định, điều này đến từ việc năng lực của doanh nghiệp nội địa chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài.
“Chúng ta yếu về vốn, yếu về kỹ thuật, không đáp ứng được nhân lực chất lượng cao, lại còn vướng phải thủ tục hành chính gây mất thời gian thì nghiễm nhiên nhà đầu tư nước ngoài phải “mang theo” các nhà cung ứng của họ”, ông Thắng nhìn nhận.
Vì vậy, với mục tiêu 10.000 nhà cung ứng nội địa, bao gồm 500 – 1.000 nhà cung ứng cấp I cho doanh nghiệp FDI không thể thực hiện bằng cách ép nhà đầu tư nước ngoài tiếp nhận hợp tác với doanh nghiệp nội. Thay vào đó, phải có sự vào cuộc với những giải pháp cụ thể từ phía Nhà nước để khơi dậy nội lực của cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
Trong đó, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh tiếp tục đóng vai trò then chốt để doanh nghiệp tư nhân có không gian phát huy năng lực, trí tuệ, tính sáng tạo. Cải cách cần đi vào chiều sâu, loại bỏ những rào cản gây mất thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Chỉ khi môi trường kinh doanh đủ thuận lợi, doanh nghiệp Việt mới có thể dồn toàn lực vào việc nghiên cứu, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng tiêu chuẩn của các đối tác quốc tế.
Bên cạnh đó, công tác giáo dục, đào tạo cũng rất quan trọng để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho cả khu vực FDI lẫn khu vực doanh nghiệp nội tham gia vào chuỗi cung ứng của FDI.
Với việc đặt doanh nghiệp nội địa thành trung tâm, ông Thắng nhìn nhận, tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết 10-NQ/TW hướng tới chính là năng lực tự chủ chiến lược. Ở đó, việc thu hút vốn ngoại không phải là cái đích cuối cùng, mà là phương tiện để Việt Nam học hỏi, lớn mạnh và tự đứng vững trên đôi chân của mình.











