Chăn nuôi Việt Nam đối mặt thách thức phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững

Ngành chăn nuôi Việt Nam đạt quy mô lớn, nhưng sức ép cạnh tranh với hàng nhập khẩu và yêu cầu xanh hóa đang buộc ngành phải chuyển sang mô hình phát triển hiệu quả, hiện đại và bền vững hơn.

Việt Nam đang sở hữu ngành chăn nuôi có quy mô đáng kể trong khu vực và thế giới - Ảnh minh họa

Việt Nam đang sở hữu ngành chăn nuôi có quy mô đáng kể trong khu vực và thế giới - Ảnh minh họa

Quy mô lớn, sức cạnh tranh còn nhiều dư địa

Những năm qua, ngành chăn nuôi Việt Nam duy trì tốc độ phát triển và từng bước nâng vị thế trên thị trường quốc tế với đàn lợn đứng thứ 5 thế giới về số lượng và thứ 6 về sản lượng; đàn gia cầm đứng thứ 9, trong đó đàn thủy cầm đứng thứ 2 thế giới.

Ở lĩnh vực sữa, sản lượng sữa tươi của Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN. Trong khi đó, sản lượng thức ăn chăn nuôi đạt khoảng 21,5 triệu tấn, đứng đầu Đông Nam Á và thứ 8 thế giới. Ngành chăn nuôi hiện đóng góp khoảng 27% GDP nông nghiệp.

Hoạt động xuất khẩu cũng có bước tiến. Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng từ 434 triệu USD năm 2021 lên 627,8 triệu USD năm 2025. Cùng với đó, xuất khẩu nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi đạt khoảng 1,6 tỷ USD.

TS. Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết, những kết quả này cho thấy bước phát triển đáng kể của ngành sau 20 năm. Theo ông Dương, đàn lợn Việt Nam đứng thứ 6 thế giới, đàn thủy cầm đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và chế biến sữa cũng đứng đầu các nước ASEAN.

“Rõ ràng, 20 năm, hơn 20 năm, thậm chí 30 năm, chúng ta đã có những bước phát triển rất lớn”, ông Dương khẳng định.

Tuy nhiên, quy mô lớn chưa đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh đã tương xứng. Bước vào giai đoạn phát triển mới, ngành chăn nuôi đang phải đối mặt với hàng loạt điểm nghẽn, từ hiệu quả kinh tế, sinh kế của người chăn nuôi đến khả năng tồn tại của doanh nghiệp trong nước.

Sức ép càng lớn khi các doanh nghiệp nội địa phải cạnh tranh với những tập đoàn lớn trong và ngoài nước, khu vực FDI và nguồn thực phẩm nhập khẩu ngày càng gia tăng.

Đáng chú ý, tốc độ tăng nhập khẩu thịt đang cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng dân số và sản xuất trong nước. Theo TS. Nguyễn Xuân Dương, trung bình mỗi năm lượng thịt các loại nhập khẩu vào Việt Nam tăng khoảng 15-20%, trong khi dân số chỉ tăng khoảng 1%, kinh tế tăng khoảng 6-7%, còn sản xuất nông nghiệp trong nước còn tăng ít hơn. Khoảng cách này đang đặt ngành chăn nuôi trước áp lực cạnh tranh ngày càng rõ nét, ngay cả trên thị trường nội địa.

Dù vậy, theo ông Dương, Việt Nam không thể lựa chọn cách thu hẹp ngành chăn nuôi. Khi dân số và nền kinh tế phát triển, nhu cầu thịt, thực phẩm và an ninh dinh dưỡng tiếp tục gia tăng. Quan trọng hơn, chăn nuôi không chỉ tạo ra thực phẩm mà còn là sinh kế của người nông dân và một bộ phận quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp. Vì vậy, bài toán đặt ra là làm thế nào để ngành tiếp tục phát triển nhưng theo hướng hiệu quả, hiện đại và bền vững, thay vì chỉ chạy theo sản lượng.

Bốn trụ cột cho chăn nuôi hiện đại

PGS.TS. Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, phát triển ngành chăn nuôi trong giai đoạn mới cần dựa trên bốn trụ cột: kinh tế, môi trường, xã hội và phúc lợi động vật.

Trước hết, theo ông Đăng, sản xuất phải có hiệu quả, người tham gia chăn nuôi phải có thu nhập và hiệu quả thì ngành mới có thể phát triển ổn định.

Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không thể đánh đổi bằng việc khai thác quá mức tài nguyên. Ngành cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất, tối ưu chi phí và sử dụng hiệu quả nguồn lực, đồng thời giảm tác động đến tài nguyên và môi trường.

Yêu cầu này gắn trực tiếp với trụ cột thứ hai là bền vững về môi trường. Việt Nam đã cam kết tại COP26 về mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong khi đó, chăn nuôi được cho là lĩnh vực gây ra khoảng 13-18% phát thải khí nhà kính.

Do đó, ngành chăn nuôi không thể đứng ngoài quá trình giảm phát thải. Đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và kiểm soát phát thải trong toàn bộ quá trình sản xuất sẽ ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng.

Trụ cột thứ ba là bền vững về xã hội. Một ngành chăn nuôi phát triển không thể chỉ được đánh giá qua sản lượng hay giá trị kinh tế, mà còn phải bảo đảm sinh kế cho người chăn nuôi và an toàn cho người tiêu dùng.

Theo đó, quá trình tái cơ cấu cần đồng thời giải quyết việc làm, thu nhập, an toàn thực phẩm và an sinh xã hội. Người chăn nuôi nông hộ không thể bị bỏ lại phía sau, bởi đây vẫn là một mắt xích quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp.

Cuối cùng là sức khỏe và phúc lợi động vật. Theo PGS.TS. Phạm Kim Đăng, yêu cầu bảo đảm phúc lợi động vật không còn chỉ là vấn đề mang tính khuyến cáo hay văn hóa mà đã từng bước được luật hóa.

Các quy định trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y ngày càng đặt ra yêu cầu đối xử nhân đạo với vật nuôi. Đây cũng là xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm trong quá trình xây dựng ngành chăn nuôi hiện đại.

Bốn trụ cột này cần được nhìn nhận trong một chỉnh thể, bởi phát triển ngành chăn nuôi không thể tách rời hiệu quả kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm sinh kế, an toàn thực phẩm và phúc lợi động vật.

Theo PGS.TS. Phạm Kim Đăng, đây không chỉ là mục tiêu của Việt Nam mà đang trở thành xu hướng chung của ngành chăn nuôi trong khu vực và trên thế giới.

TS. Nguyễn Xuân Dương cũng cho rằng phát triển chăn nuôi hiện đại đòi hỏi sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, tiến bộ khoa học - công nghệ, sức khỏe vật nuôi, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.

Để những yêu cầu này đi vào thực tiễn, liên kết giữa nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và người chăn nuôi giữ vai trò then chốt. Đây là cơ sở để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất, đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật từ phòng thí nghiệm vào từng trang trại, cơ sở chăn nuôi và hộ sản xuất.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, chuyển đổi mô hình phát triển sẽ quyết định khả năng duy trì lợi thế của ngành chăn nuôi Việt Nam. Quy mô đàn vật nuôi và sản lượng lớn là nền tảng, nhưng hiệu quả, công nghệ, khả năng kiểm soát môi trường và chất lượng sản phẩm mới là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh trong giai đoạn tiếp theo.

Hải Yến

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chan-nuoi-viet-nam-doi-mat-thach-thuc-phat-trien-hieu-qua-hien-dai-va-ben-vung-187552.html