Chắt chiu nước ngọt tại 'Maldives của Việt Nam'
Mỗi năm, đảo Bé (đặc khu Lý Sơn, Quảng Ngãi) đón hàng chục nghìn lượt du khách tìm về với biển xanh, cát trắng và những rạn san hô nguyên sơ. Thế nhưng phía sau vẻ đẹp được ví như 'Maldives của Việt Nam', hơn 500 cư dân nơi đây vẫn chắt chiu từng giọt nước ngọt để sinh hoạt giữa bốn bề biển mặn.
Mỗi giọt nước đều được chắt chiu
Giữa những ngày hè rực nắng, từng đoàn du khách nối nhau xuống tàu ra đảo Bé, hòn đảo nhỏ nằm cách đảo Lớn của đặc khu Lý Sơn khoảng 3 hải lý. Trên diện tích chỉ hơn 1 km², nơi đây sở hữu làn nước trong vắt, những bãi cát trắng trải dài cùng hệ sinh thái san hô đầy màu sắc, trở thành điểm đến hấp dẫn bậc nhất của du lịch Quảng Ngãi.
Ít ai biết rằng, ngay dưới vẻ đẹp mê hoặc ấy là câu chuyện về một "cơn khát" kéo dài qua nhiều thế hệ.

Đảo Bé (đặc khu Lý Sơn, Quảng Ngãi) đón hàng chục nghìn lượt du khách tìm về với biển xanh, cát trắng và những rạn san hô nguyên sơ.
Khác với nhiều vùng đảo khác, đảo Bé gần như không có nguồn nước ngầm tự nhiên. Đào giếng không có nước, người dân chỉ còn cách trông chờ vào những cơn mưa để tích trữ nước sinh hoạt.
Trên hầu hết mái nhà đều lắp hệ thống máng dẫn nước mưa vào các bể chứa hoặc những chiếc lu lớn. Với người dân nơi đây, nước mưa không đơn thuần là nguồn nước sinh hoạt mà là tài sản quý giá được dành dụm cho những tháng nắng kéo dài.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, ngụ thôn Bắc An Bình, cho biết mùa du lịch cũng là lúc người dân lo lắng nhất về nguồn nước.
"Khách đến đông thì ai cũng mừng vì có thêm thu nhập. Nhưng nước lại phải tiết kiệm hơn. Tắm giặt, nấu ăn hay sinh hoạt hằng ngày đều phải tính toán. Có những lúc cả nhà nhắc nhau dùng nước thật tiết kiệm để đủ dùng đến cuối mùa khô", bà Thúy chia sẻ.

Người dân cho biết, thiếu nước nên việc ắm giặt, nấu ăn hay sinh hoạt hằng ngày đều phải tính toán.
Những năm mưa ít, khi lượng nước dự trữ cạn dần, nhiều hộ dân phải mua nước từ đảo Lớn vận chuyển sang với chi phí cao gấp nhiều lần so với đất liền.
Một cán bộ địa phương kể rằng, ngày trước đảo Bé nổi tiếng bởi nhiều thứ "không có": đường sá khó khăn, hạ tầng thiếu thốn và nước ngọt luôn là nỗi lo thường trực. Có thời điểm trên đảo thậm chí còn không có chuột bởi tàu thuyền phải neo ngoài xa, mọi di chuyển đều bằng thúng.
Đến nay, nhiều thứ đã thay đổi nhưng bài toán nước ngọt vẫn chưa tìm được lời giải trọn vẹn.
Nỗi lo phía sau sự phát triển du lịch
Ngồi trước hiên nhà nhìn dòng du khách qua lại tấp nập, ông Lê An Phú (70 tuổi, trú thôn Bắc An Bình) nói rằng người dân đảo Bé đã quen với cuộc sống thiếu nước từ lâu.
"Bao đời nay vẫn vậy. Sinh ra ở đây thì phải thích nghi để sống. Người dân ít nước nên cái gì cũng phải tiết kiệm. Chỉ mong cuộc sống sau này đỡ vất vả hơn cho con cháu", ông Phú nói.

Thiếu nước ngọt sinh hoạt cũng khiến đời sống người dân gặp nhiều ảnh hưởng.
Cách đó không xa, chị Bảy Thanh đang tất bật chuẩn bị đồ uống phục vụ khách du lịch. Hơn 20 năm gắn bó với đảo Bé, chị hiểu rõ những khó khăn mà người dân phải đối mặt mỗi khi mùa khô đến.
Theo chị Thanh, hiện mỗi nhân khẩu được cấp khoảng 2 m³ nước mỗi tháng từ hệ thống cấp nước tập trung. Với nhu cầu sinh hoạt thông thường, lượng nước này cơ bản đáp ứng được. Tuy nhiên, đối với các hộ làm du lịch, homestay hay dịch vụ ăn uống thì hoàn toàn không đủ.
"Gia đình tôi có bốn người, được cấp khoảng 8 khối nước mỗi tháng. Sinh hoạt thì tạm ổn nhưng làm du lịch lại khác. Khách cần nước để tắm rửa, vệ sinh nên nhu cầu lớn hơn nhiều. Hết nước phải mua thêm từ đảo Lớn, chi phí rất cao", chị Thanh cho hay.

Nhiều gia đình cho biết, lượng nước được cấp vừa đủ cho sinh hoạt nhưng làm du lịch thì phải tính toán cân nhắc.
Thực tế, vài năm trở lại đây, đảo Bé nổi lên như một điểm đến không thể bỏ qua trong hành trình khám phá Lý Sơn. Các dịch vụ lưu trú, ăn uống và trải nghiệm du lịch phát triển nhanh, mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân.
Tuy nhiên, sự phát triển ấy cũng khiến áp lực về nguồn nước ngày càng lớn. Nước ngọt dần trở thành một trong những rào cản lớn nhất đối với định hướng phát triển du lịch lâu dài của hòn đảo.
Ông Nguyễn Văn Huy, Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn, cho biết địa phương đã nhiều năm tìm cách tháo gỡ bài toán nước ngọt cho đảo Bé.
Năm 2012, nhà máy xử lý nước biển thành nước ngọt được đầu tư với kinh phí khoảng 1 triệu USD, công suất thiết kế 200 m³ mỗi ngày. Công trình từng được kỳ vọng sẽ giải quyết căn bản tình trạng thiếu nước trên đảo.

Hiện nhà máy xử lý nước biển thành nước ngọt chỉ cung cấp được khaonrg 40-5% nhu cầu thực tế của người dân.
Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ vận hành, nhiều thiết bị đã xuống cấp, hư hỏng, trong khi nguồn điện phục vụ hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu. Hiện nhà máy chỉ cung cấp được khoảng 40-50% nhu cầu thực tế.
"Địa phương đã kiến nghị cấp trên hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp hệ thống để tăng khả năng cung cấp nước cho người dân và phục vụ phát triển du lịch", ông Huy cho biết.
Năm 2025, Sở NN&MT tỉnh Quảng Ngãi đã khảo sát, nghiên cứu và lập báo cáo đề xuất phương án xây dựng hệ thống thu gom, trữ và cấp nước tại Lý Sơn, nhằm cung cấp nước sinh hoạt với lưu lượng 1.150 m³/ngày đêm, đáp ứng nhu cầu của khoảng 11.000 dân; đồng thời tạo nguồn nước tưới tiết kiệm cho 32 ha đất sản xuất nông nghiệp.
Các hạng mục đầu tư gồm bể chứa ngầm theo điều kiện địa hình; nhà máy xử lý, cấp nước công suất 1.150 m³/ngày đêm; tuyến ống dẫn nước từ hồ Thới Lới đến nhà máy; hệ thống tuyến ống phân phối chính và nhánh. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 250 tỷ đồng, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2029.
Di Linh












