Chè Phú Thọ chinh phục những thị trường khó tính

Từ Nga, Pakistan, Trung Đông đến Mỹ, EU, Nhật Bản, chè Phú Thọ đã có mặt tại nhiều thị trường ngoài nước. Nhưng càng đi vào những thị trường có yêu cầu cao, câu chuyện xuất khẩu càng không thể chỉ dựa vào sản lượng và giá bán. Từ vùng nguyên liệu, thuốc bảo vệ thực vật, quy trình thu hái đến công nghệ chế biến, truy xuất nguồn gốc, mỗi công đoạn đều phải được kiểm soát. Những yêu cầu khắt khe từ thị trường đang từng bước làm thay đổi cách sản xuất chè ở Phú Thọ.

“Tấm vé” vào thị trường khó tính

Với vùng nguyên liệu lớn cùng hệ thống doanh nghiệp chế biến được hình thành qua nhiều năm, chè đã trở thành một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của tỉnh Phú Thọ.

7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Phú Thọ ước đạt 31,53 tỷ USD, tăng 39,7% so với cùng kỳ và đạt 79,8% kế hoạch năm. Riêng chè, sản lượng xuất khẩu ước đạt trên 30.000 tấn chè, được xuất sang Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan... Toàn tỉnh có hơn 1.000 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu; hàng hóa sản xuất tại Phú Thọ đã vào Đức, Pháp, Hà Lan, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ...

Đồi chè Long Cốc vừa là vựa nguyên liệu chè chủ lực, vừa là hệ sinh thái du lịch xanh được mệnh danh là “vịnh Hạ Long vùng Trung du”.

Đồi chè Long Cốc vừa là vựa nguyên liệu chè chủ lực, vừa là hệ sinh thái du lịch xanh được mệnh danh là “vịnh Hạ Long vùng Trung du”.

Với chè, điều đáng quan tâm không chỉ là sản lượng mà còn là sự dịch chuyển của thị trường. Mỹ, EU, Nhật Bản có sức mua lớn, giá trị cao nhưng đi kèm những tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Ngay cả Trung Quốc - thị trường truyền thống của chè Việt Nam cũng ngày càng nâng yêu cầu đối với hàng nhập khẩu.

Hàng rào kỹ thuật vì thế trở thành “tấm vé” đầu tiên để chè bước vào các thị trường này. Liên minh Châu Âu (EU) quy định mức dư lượng tối đa cho phép (MRLs) đối với thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản nhập khẩu. Doanh nghiệp phải bảo đảm sản phẩm đáp ứng quy định về hoạt chất được phép sử dụng và có khả năng chứng minh quá trình kiểm soát dư lượng. Tại Anh và Hoa Kỳ, chè phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm, điều kiện sản xuất, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc.

Điều đó đặt ra yêu cầu kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, thay vì chỉ kiểm tra khi sản phẩm đã vào nhà máy. Từ giống, chăm sóc, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian cách ly đến thu hái, chế biến và đóng gói đều phải được kiểm soát chặt chẽ.

Toàn tỉnh đã có 62 mã số vùng trồng cho hơn 2.000 ha chè, phục vụ truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ và xuất khẩu. Khoảng 2.140ha được chứng nhận Rainforest Alliance (RA), 322ha VietGAP và 15ha sản xuất hữu cơ. Việc mở rộng vùng chè sản xuất theo tiêu chuẩn, được quản lý mã số và truy xuất nguồn gốc giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát nguyên liệu, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nhà nhập khẩu.

Tỉnh định hướng duy trì diện tích chè khoảng 14 nghìn ha, sản lượng khoảng 190 nghìn tấn/năm; đến năm 2030 phấn đấu 85% diện tích áp dụng IPHM, 80% diện tích đạt các tiêu chuẩn sản xuất an toàn và trên 70% diện tích chè tập trung được quản lý mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc.

Nâng chuẩn từ vùng nguyên liệu đến nhà máy

Tại Công ty TNHH Chè Hoài Trung (xã Chí Tiên), mỗi năm doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 1.000 tấn chè đen sang Trung Đông, Trung Quốc, đồng thời sản xuất chè xanh cao cấp, chè túi lọc, chè sen, chè nhài.... Từ một cơ sở chế biến nhỏ thành lập năm 2002, doanh nghiệp hiện có nhà máy rộng khoảng 6.000m2, khả năng chế biến hàng nghìn tấn chè thành phẩm mỗi năm và vùng nguyên liệu liên kết hơn 100ha. Cán bộ kỹ thuật của Công ty theo sát các hộ dân trong quá trình chăm sóc, thu hái, hướng dẫn yêu cầu chất lượng ngay tại vùng nguyên liệu.

Bà Bùi Thị Mão, Giám đốc Công ty TNHH Chè Hoài Trung cho biết: Nguyên liệu không chỉ cần đủ về số lượng mà phải đồng đều, đáp ứng yêu cầu của từng dòng sản phẩm. Quá trình thu hái, chế biến phải tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật để giữ chất lượng nguyên liệu.

Với “Chè đinh cao cấp Hoài Trung”, khoảng 7-8kg búp tươi mới chế biến được 1kg chè thành phẩm. Nguyên liệu không đạt yêu cầu bị loại ngay từ đầu. Riêng “Chè đinh túi lọc” sử dụng công nghệ nhập khẩu từ Nhật Bản, các khâu sản xuất được đặt trong hệ thống quản lý chất lượng ISO 22000:2018, VietGAP và truy xuất nguồn gốc.

Tại Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà UT (xã Thanh Ba), chuỗi liên kết nguyên liệu có quy mô khoảng 320ha với hơn 300 hộ trồng chè. Công ty có công suất chế biến trên 1.000 tấn sản phẩm/năm, sản xuất chè xanh, chè đen xuất khẩu và đã phát triển dòng chè búp tím đạt OCOP 5 sao cấp Quốc gia.

Theo bà Lê Thị Hồng Phương - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Trà UT, việc mở rộng thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải chú trọng quy trình sản xuất, đầu tư công nghệ, thực hiện các yêu cầu trong trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến chè an toàn; cải tiến bao bì, áp dụng hệ thống quản lý và truy xuất nguồn gốc để sản phẩm ổn định về chất lượng, rõ xuất xứ.

Thực tế cho thấy, đầu tư cho một dây chuyền hiện đại sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chất lượng búp chè đầu vào không được kiểm soát. Ngược lại, vùng nguyên liệu đạt chuẩn cũng chưa đủ nếu khâu chế biến, bảo quản thiếu chặt chẽ. Vì vậy, muốn bước vào phân khúc cao cấp, doanh nghiệp phải kiểm soát đồng bộ cả chuỗi sản xuất, từ vùng nguyên liệu đến thành phẩm; đồng thời quan tâm xây dựng thương hiệu và minh bạch nguồn gốc.

Chuẩn bị nguyên liệu để sao chè tại HTX sản xuất chè an toàn xã Long Cốc.

Chuẩn bị nguyên liệu để sao chè tại HTX sản xuất chè an toàn xã Long Cốc.

Trước sức ép từ các thị trường cao cấp, Phú Thọ đang từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành chè theo hướng nâng chất lượng và giá trị gia tăng. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, tỉnh khuyến khích phát triển chè ô long, matcha, chè túi lọc, chè hòa tan, trà đóng chai; đồng thời tái canh bằng các giống phù hợp với từng mục tiêu chế biến.

Đến năm 2030, tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích chè được quản lý mã số vùng trồng, sản xuất an toàn, áp dụng IPHM; khuyến khích sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, tận dụng phụ phẩm và tăng liên kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến.

Những thay đổi từ vùng nguyên liệu đến quy trình sản xuất cho thấy ngành chè Phú Thọ đang chủ động thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Kiểm soát tốt nguyên liệu, giữ ổn định chất lượng, tăng chế biến sâu và minh bạch nguồn gốc là cách để sản phẩm tiếp tục vào Mỹ, EU, Nhật Bản và mở rộng thị phần. Đích đến không chỉ là xuất khẩu nhiều chè hơn, mà là bán được sản phẩm có giá trị cao hơn và giữ được thương hiệu Chè Phú Thọ trên thị trường.

Ngọc Tuấn

Nguồn Phú Thọ: https://baophutho.vn/che-phu-tho-chinh-phuc-nhung-thi-truong-kho-tinh-260467.htm