Chè Thái Nguyên khẳng định vị thế cây trồng chủ lực, hướng tới mục tiêu tỷ USD
Từ định hướng chiến lược đến các mô hình sản xuất, Thái Nguyên đẩy mạnh phát triển ngành chè, nâng cao giá trị và mở rộng thị trường nhắm mục tiêu đưa chè trở thành 'cây trồng tỷ USD' vào năm 2030.

Thu hái chè Xuân tại xã Tràng Xá, Thái Nguyên. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Với diện tích hơn 22.000ha, sản lượng và giá trị ngày càng tăng, cây chè đang khẳng định vị thế là ngành hàng chủ lực của tỉnh Thái Nguyên.
Từ định hướng chiến lược đến những mô hình sản xuất cụ thể tại cơ sở, Thái Nguyên đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa chè trở thành “cây trồng tỷ USD” vào năm 2030.
Thái Nguyên từ lâu đã được xem là “thủ phủ chè” của cả nước với những vùng chè nổi tiếng như Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc, Bằng Phúc… Không chỉ có lợi thế về điều kiện tự nhiên, cây chè nơi đây còn gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế, văn hóa của người dân.
Theo số liệu năm 2025, toàn tỉnh có trên 22.000ha chè, sản lượng hơn 265.000 tấn búp tươi mỗi năm, mang lại giá trị khoảng 14,8 nghìn tỷ đồng. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương đặt mục tiêu nâng tổng giá trị ngành chè lên trên 25.000 tỷ đồng vào năm 2030.

Vùng chè đặc sản xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ông Phạm Văn Thọ, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Để cây chè thực sự trở thành ngành hàng chủ lực, chúng tôi xác định phải đồng bộ từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Không chỉ dừng ở thị trường trong nước, chè Thái Nguyên cần vươn ra thế giới. Vì vậy, ngành Công Thương đang tích cực hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã trong xúc tiến thương mại, tham gia các hội chợ, cũng như đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử.”
Theo ông Thọ, việc nắm bắt các hiệp định thương mại như AFTA cũng là cơ hội để quảng bá và mở rộng thị trường xuất khẩu cho chè Thái Nguyên.
Xã Phú Thịnh là một trong những địa phương tiêu biểu trong phát triển chè theo hướng bền vững. Hiện toàn xã có hơn 728ha chè, sản lượng đạt trên 9.000 tấn mỗi năm, giá trị hơn 200 tỷ đồng.
Ông Trần Đức Quý, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phú Thịnh chia sẻ: “Chúng tôi xác định phải nâng cao chất lượng thay vì chỉ mở rộng diện tích. Hiện nay, xã đang đẩy mạnh sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, đồng thời cấp mã số vùng trồng để đáp ứng yêu cầu thị trường. Mục tiêu đến năm 2030 là 70% diện tích chè đạt tiêu chuẩn an toàn và nâng tổng giá trị sản phẩm lên trên 300 tỷ đồng.”

Sản xuất chè tại xã Vô Tranh, Thái Nguyên. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Không chỉ dừng ở sản xuất, Phú Thịnh còn định hướng phát triển du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa trà, tạo thêm nguồn thu và nâng cao giá trị thương hiệu địa phương. Từ thực tiễn sản xuất, các hợp tác xã đang đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi tư duy làm chè. Tại xóm Làng Thượng, Hợp tác xã chè Hải Yến là một mô hình tiêu biểu.
Chị Hà Thị Yến, Giám đốc hợp tác xã cho biết: “Ban đầu chúng tôi chỉ có 7 thành viên với hơn 1 ha chè. Đến nay, hợp tác xã đã mở rộng vùng nguyên liệu với 5ha chè hữu cơ, 10 ha chè VietGAP và liên kết với hơn 30 hộ dân. Điều quan trọng nhất là thay đổi cách làm, hướng tới sản xuất sạch, an toàn.”
Theo chị Yến, mỗi năm hợp tác xã cung ứng khoảng 180 tấn chè búp tươi ra thị trường. Sản phẩm đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Khánh Hòa.
“Tôi mong muốn xây dựng thương hiệu chè sạch của Phú Thịnh. Mỗi sản phẩm không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn thể hiện trách nhiệm với sức khỏe người tiêu dùng và môi trường,” chị Yến chia sẻ thêm.
Tại xã Đại Phúc, địa phương có diện tích chè lớn với hơn 1.260ha, việc nâng cao giá trị cây chè cũng được xác định là nhiệm vụ đột phá trong phát triển kinh tế.
Chị Lê Thị Thu, Giám đốc Hợp tác xã Sỹ Thu Trà cho biết: “Trước đây bà con sản xuất còn manh mún, chất lượng không đồng đều. Khi tham gia hợp tác xã, chúng tôi xây dựng quy trình chung từ chăm sóc đến chế biến, nhờ đó sản phẩm ổn định hơn, dễ xây dựng thương hiệu.”
Theo chị Thu, yếu tố thời gian trong chế biến chè là đặc biệt quan trọng: “Chè sau khi hái phải được chế biến ngay trong ngày. Chỉ cần chậm một chút là hương vị đã thay đổi. Vì vậy, chúng tôi luôn kiểm soát rất chặt chẽ quy trình để giữ chất lượng tốt nhất.”
Hiện, hợp tác xã có vùng nguyên liệu hơn 7ha, với gần 20 thành viên và tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương. Dù quy mô chưa lớn, nhưng mô hình này đang góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm của người trồng chè.

Vùng chè đặc sản Tân Cương hiện đã trở thành điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn tại Thái Nguyên. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 11-NQ/TU, ngành chè Thái Nguyên đã đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh hiện có hơn 6.400ha chè đạt chứng nhận VietGAP và 179ha chè hữu cơ. Đặc biệt, đã có 203 sản phẩm chè đạt chứng nhận OCOP từ 3 đến 5 sao.
Song song với đó, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất cũng được đẩy mạnh. Hàng trăm mã số vùng trồng được cấp và quản lý bằng định vị GPS; hàng nghìn cơ sở sản xuất tham gia hệ thống quản lý chất lượng nông sản.
Không chỉ phát triển sản xuất, Thái Nguyên còn chú trọng xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Nhãn hiệu “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại nhiều quốc gia, trong khi chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” đã có mặt tại thị trường châu Âu.
Trong thời gian tới, tỉnh xác định tập trung vào chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển du lịch trà. Các mô hình trải nghiệm, làng nghề gắn với văn hóa trà đang dần hình thành, góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Có thể thấy, với sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, cây chè Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Từ những đồi chè xanh mướt, mục tiêu trở thành “cây trồng tỷ USD” không chỉ là kỳ vọng mà đang dần trở thành hiện thực./.











![[Ảnh] Hơn 1.000 đoàn viên, công nhân lao động diễu hành kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_04_28_14_55038781/c768bd8660ce8990d0df.jpg)