Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 7-13/3/2026

Bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp; điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ ngày 7-13/3/2026.

Bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp

Trước diễn biến căng thẳng tại Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, đang ảnh hưởng mạnh tới thị trường năng lượng toàn cầu, nhất là ảnh hưởng tới hoạt động của tàu thuyền qua eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển chiến lược của dầu thô Trung Đông. Sự gián đoạn này ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực châu Á – nơi phụ thuộc lớn vào nguồn dầu thô từ Trung Đông, để tập trung thực hiện các giải pháp bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ngày 11/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 22/CĐ-TTg yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại các Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm cung ứng xăng dầu và điều hành giá xăng dầu.

Trong đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác điều hành, bảo đảm cung ứng xăng dầu cho thị trường trong nước:

Theo dõi sát diễn biến thị trường xăng dầu thế giới và trong nước, chủ động đánh giá tình hình cung cầu, dự trữ và hoạt động của hệ thống phân phối xăng dầu để chủ động thực hiện các giải pháp điều hành phù hợp theo thẩm quyền và quy định pháp luật; kịp thời báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền.

Chỉ đạo các thương nhân đầu mối sản xuất, kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch nguồn hàng, bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu cho hệ thống phân phối; duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên, bán đúng giá niêm yết; theo dõi sát diễn biến thị trường xăng dầu thế giới và trong nước, chủ động có các giải pháp điều hành phù hợp; kịp thời điều tiết nguồn cung giữa các khu vực, địa bàn, bảo đảm chủ động, không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung xăng dầu, đáp ứng đủ nhu cầu của nền kinh tế và tiêu dùng của xã hội...

Bộ trưởng Bộ Tài chính theo dõi sát tình hình thị trường, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương thực hiện điều hành giá xăng dầu theo quy định pháp luật hiện hành; bảo đảm thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh; tăng cường kiểm tra, giám sát việc trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu của các thương nhân đầu mối theo đúng quy định của pháp luật.

Giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0%

Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP ngày 09/03/2026 sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 với mục tiêu giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nhập khẩu, góp phần ổn định nguồn cung xăng dầu trong nước.

Nghị định này đã giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi từ 10% xuống 0% đối với xăng động cơ không pha chì (các mã HS 2710.12.21 - Chưa pha chế); 2710.12.22 - Pha chế với ethanol; 2710.12.24 - Chưa pha chế; 2710.12.25 - Pha chế với ethanol) và các nguyên liệu pha chế xăng như naphtha, reformate (mã HS 2710.12.80).

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi cũng được giảm từ 7% xuống 0% đối với các mặt hàng nhiên liệu diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu động cơ máy bay và kerosine.

Ngoài ra, một số nguyên liệu hóa dầu như xylen, condensate, p-xylen được giảm thuế từ 3% xuống 0%, còn hydrocarbon mạch vòng loại khác giảm từ 2% xuống 0%.

Hướng dẫn về quyết toán ngân sách nhà nước

Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2026/NĐ-CP ngày 10/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước. Trong đó đáng chú ý là các quy định về quyết toán ngân sách nhà nước.

Về quyết toán ngân sách nhà nước, Nghị định quy định việc khóa sổ kế toán và xử lý thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm được thực hiện như sau:

1. Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước thực hiện khóa sổ kế toán và xử lý thu chi ngân sách nhà nước cuối năm đảm bảo nội dung, yêu cầu quy định tại khoản 2 và khoản 3 dưới đây.

2. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các cấp ngân sách trong thời gian chỉnh lý quyết toán theo quy định tại khoản 2 Điều 66 của Luật Ngân sách nhà nước thực hiện các nội dung sau:

a) Hạch toán tiếp các khoản thu, chi ngân sách phát sinh từ ngày 31/12 trở về trước nhưng chứng từ đang luân chuyển.

b) Hạch toán chi ngân sách các khoản tạm ứng đã đủ điều kiện chi, các khoản thanh toán cho công việc, khối lượng đã được thực hiện từ ngày 31/12 trở về trước được giao trong dự toán ngân sách.

c) Đối với các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước được thực hiện và hạch toán các khoản chi từ nguồn tiết kiệm kinh phí quản lý hành chính và phân phối kết quả tài chính của năm trước.

d) Điều chỉnh các sai sót trong hạch toán kế toán các khoản thu, chi ngân sách nhà nước.

3. Việc khóa sổ kế toán phải bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước, nhưng nộp từ ngày 01/01 năm sau thì phải hạch toán và quyết toán vào thu ngân sách năm sau, trừ các khoản thu quy định tại điểm a khoản 2 nêu trên.

b) Hết thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách, các khoản dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, chưa thực hiện, chưa chi hết hoặc hết nhiệm vụ chi phải hủy dự toán, trừ các trường hợp được chuyển nguồn sang năm sau để tiếp tục thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Nghị định này.

c) Các khoản đã tạm ứng theo chế độ đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán vẫn chưa đủ thủ tục thanh toán thì xử lý như sau:

Đối với số dư tạm ứng vốn đầu tư công chưa thu hồi không đưa vào quyết toán thì được chuyển sang năm sau để quản lý, thu hồi tạm ứng và quyết toán phần thanh toán khối lượng hoàn thành.

Đối với tạm ứng kinh phí cho các nhiệm vụ đang trong quá trình thực hiện hợp đồng hoặc nhiệm vụ chi được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định tại Điều 31 của Nghị định này thì số dư tạm ứng được chuyển sang năm sau để quản lý, thu hồi tạm ứng và quyết toán khối lượng, nhiệm vụ hoàn thành.

Trường hợp không được chuyển số dư tạm ứng sang năm sau, cơ quan, tổ chức, đơn vị nộp lại ngân sách nhà nước trước ngày 15/02 năm sau.

Sau thời hạn này, đơn vị chưa nộp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thu hồi số tạm ứng bằng cách trừ lĩnh vực chi tương ứng thuộc dự toán ngân sách năm sau của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trường hợp dự toán năm sau không bố trí kinh phí lĩnh vực chi đó hoặc bố trí ít hơn số dư tạm ứng phải thu hồi, Kho bạc Nhà nước thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý.

d) Các khoản tạm thu, tạm giữ thực hiện xử lý theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Trường hợp đến hết ngày 31/12 năm thực hiện dự toán, số dư trên tài khoản tạm thu, tạm giữ mà chưa được cấp có thẩm quyền quyết định xử lý, được chuyển sang năm sau để theo dõi và xử lý tiếp theo quy định của pháp luật.

đ) Các loại vật tư, hàng hóa tồn kho tại các đơn vị dự toán đến cuối ngày 31/12 năm thực hiện dự toán, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện kiểm kê theo quy định và xử lý như sau: Giá trị đã mua hàng hóa, vật tư tồn kho được quyết toán vào chi ngân sách năm thực hiện dự toán theo quy định.

Trường hợp sử dụng tiếp cho năm sau, cơ quan, tổ chức, đơn vị theo dõi chặt chẽ, sử dụng và có báo cáo riêng. Trường hợp không sử dụng tiếp, cơ quan, tổ chức, đơn vị thành lập hội đồng thanh lý bán, nộp tiền vào ngân sách nhà nước; đối với đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng theo quy định của pháp luật;

e) Đến cuối ngày 31/12, số dư tài khoản tiền gửi các khoản ngân sách cấp của đơn vị dự toán mở tại Kho bạc Nhà nước được tiếp tục chi trong thời gian chỉnh lý quyết toán; hết thời gian chỉnh lý quyết toán mà vẫn còn dư thì nộp trả ngân sách nhà nước, trừ trường hợp nhiệm vụ chi được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định tại Điều 31 của Nghị định này.

Số dư trên tài khoản tiền gửi không thuộc ngân sách nhà nước cấp, được chuyển sang năm sau sử dụng theo quy định của pháp luật có liên quan.

Đảm bảo việc điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 21/CĐ-TTg ngày 11/03/2026 về việc điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới.

Công điện yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các địa phương theo dõi, dự báo và nắm chắc tình hình sản xuất, tăng cường phòng chống sinh vật gây hại, chủ động ứng phó với các diễn biến bất lợi của thời tiết để bảo vệ an toàn các vụ sản xuất để đảm bảo năng suất, sản lượng theo kế hoạch và chi phí thấp; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương có liên quan xử lý kịp thời các rào cản kỹ thuật để đảm bảo gia tăng khối lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì theo dõi chặt chẽ và dự báo sát tình hình xuất, nhập khẩu; nhu cầu tiêu thụ; giá cả lương thực trong khu vực và trên thị trường thế giới để có các biện pháp chủ động, linh hoạt điều tiết việc kinh doanh, xuất nhập khẩu gạo để đảm bảo nâng cao hiệu quả xuất khẩu...

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Chương trình).

Chương trình thể hiện rõ những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để cụ thể hóa quan điểm, đường lối, định hướng và nội dung liên quan của Nghị quyết Đại hội XIV thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, bảo đảm phù hợp với tình hình trong nước, quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời gian tới.

Chương trình hành động của Chính phủ là căn cứ để các bộ, ngành, cơ quan trực thuộc Chính phủ ở trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh xây dựng chương trình hành động của từng bộ, ngành, cơ quan, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phải được tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, nỗ lực phấn đấu cao nhất để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước đã đề ra theo Nghị quyết Đại hội XIV.

Chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng và thi hành án hình sự

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 10/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

Đề án đưa ra mục tiêu đến hết Quý IV năm 2026, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia làm nền tảng trung gian điều phối, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan trong toàn bộ quy trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; quản lý danh mục và trạng thái dữ liệu chia sẻ liên ngành (hồ sơ vụ án, quyết định tố tụng, lịch xét xử, bản án, quyết định thi hành án...); đồng bộ tự động theo phân quyền và cảnh báo, nhắc việc khi phát sinh cập nhật; bảo đảm thông tin liên thông được ký số, ghi nhật ký đầy đủ, đúng thẩm quyền, an toàn và bảo mật.

Đến hết năm 2027, triển khai trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm vận hành toàn trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự trên môi trường số, đạt các chỉ tiêu: 100% tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự đủ điều kiện được số hóa và quản lý thống nhất trong hồ sơ điện tử; văn bản tố tụng được tạo lập điện tử và ký số ngay khi ban hành, tài liệu giấy/chứng cứ được số hóa và gắn vào hồ sơ điện tử; hồ sơ giấy chỉ lưu theo yêu cầu bắt buộc để đối chiếu/kiểm tra...

Quy định xử phạt vi phạm về giấy phép thực hiện công việc bức xạ

Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2026/NĐ-CP ngày 09/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt vi phạm về giấy phép tiến hành công việc bức xạ.

Trong đó, phạt từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu chất phóng xạ, nguồn phóng xạ không có giấy phép; phạt từ 15 – 25 triệu đồng đối với việc vận chuyển nguồn phóng xạ, chất phóng xạ, chất thải phóng xạ không phép; phạt từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ không phép; phạt từ 40- 60 triệu đồng đối với việc vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ không phép...

Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP ngày 6/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Theo quy định mới, hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Quy định về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch

Tại Nghị định số 70/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.

Về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch, Nghị định quy định tổ chức tư vấn trong nước lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 01 chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch và có ít nhất 05 chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch đáp ứng các điều kiện quy định (trừ trường hợp pháp luật về đầu tư có quy định khác). Cụ thể:

Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 15 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng đại học liên quan đến nội dung quy hoạch hoặc có ít nhất 8 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng thạc sĩ trở lên liên quan đến nội dung quy hoạch và đáp ứng điều kiện sau đây:

Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch cấp quốc gia phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch vùng phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch tỉnh phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch có thẩm quyền phê duyệt từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 10 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng đại học hoặc có ít nhất 5 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng thạc sĩ trở lên và đáp ứng điều kiện sau đây:

Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch cấp quốc gia phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch vùng phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch có thẩm quyền phê duyệt từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt

Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch tỉnh phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến 2050, tầm nhìn đến 2075

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 423/QĐ-TTg ngày 11/3/2026 phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.

Mục tiêu của Quy hoạch nhằm xây dựng phát triển Hải Phòng trở thành đô thị biển hiện đại, thông minh, có sức hút lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường; là hình mẫu về quản trị phát triển đô thị bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Triển khai chủ trương đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Vinh - Thanh Thủy

Ngày 11/03/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 42/NQ-CP về việc triển khai Nghị quyết số 255/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Vinh - Thanh Thủy.

Chính phủ giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An thực hiện thẩm quyền của người quyết định đầu tư, tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt dự án theo quy định; tổ chức thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định của pháp luật.

Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường ủy quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An tổ chức thẩm định, phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường đối với dự án, dự án thành phần theo quy định của pháp luật, đáp ứng tiến độ yêu cầu của Dự án.

Làm đường nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội (đoạn qua Bắc Ninh) theo hình thức xây dựng khẩn cấp

Văn phòng Chính phủ có văn bản số 2095/VPCP-CN truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về việc triển khai tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.

Cụ thể, Thủ tướng đồng ý với kiến nghị của Bộ Công an về việc Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hiện dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội (đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh) theo hình thức công trình xây dựng khẩn cấp quy định tại Điều 130 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 62/2020/QH14.

Nguồn Chính Phủ: https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-noi-bat-tuan-tu-7-13-3-2026-102260313092730139.htm