Chỉ huy trưởng Khởi nghĩa Bắc Sơn

Từ người thanh niên ở thôn Nông Lục đến người cầm quân đánh đồn Mỏ Nhài cách đây 86 năm, đồng chí Hoàng Văn Hán đã đi qua một chặng đường đặc biệt của lịch sử cách mạng. Những câu chuyện còn được lưu giữ trong gia đình góp phần phác họa chân dung người Chỉ huy trưởng Khởi nghĩa Bắc Sơn và những năm tháng đấu tranh đầy gian khó sau cuộc khởi nghĩa.

Chân dung ông Hoàng Văn Hán trong cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân huyện Bắc Sơn 1930 - 1954"

Chân dung ông Hoàng Văn Hán trong cuốn “Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân huyện Bắc Sơn 1930 - 1954"

Tìm đến ngôi nhà của gia đình ông Hoàng Văn Tiệp (sinh năm 1966) - cháu nội ông Hoàng Văn Hán, thôn Đức Hinh, xã Văn Quan, chúng tôi có dịp tìm hiểu thêm những tư liệu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của người Chỉ huy trưởng khởi nghĩa Bắc Sơn cách đây 86 năm...

Người thanh niên Nông Lục

Ông Hoàng Văn Hán sinh năm 1909 tại thôn Nông Lục, xã Hưng Vũ, là con thứ năm trong gia đình có bảy anh chị em.  Thuở nhỏ, đồng chí ham học, yêu thích võ thuật, thường bênh vực người yếu thế.

Sống dưới chế độ thực dân, chứng kiến cảnh quê hương, người dân bị áp bức, ý thức về quê hương và khát vọng đấu tranh dần được hun đúc ở người thanh niên Hoàng Văn Hán.

Năm 1930, ở tuổi 21, nghe tin nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước đang hoạt động bên kia biên giới, ông đóng giả người lái buôn, tìm đường lên biên giới Việt - Trung để liên lạc với cách mạng. Sau đó, ông được giao trở về Bắc Sơn gây dựng cơ sở cách mạng ngay trên quê hương.

Với bí danh Anh Khoa, ông cùng các đồng chí: Hoàng Đình Ruệ, Dương Thần Tần, Dương Quốc Vinh, Hà Khai Lạc, Dương Văn Vân từng bước vận động quần chúng, xây dựng cơ sở. Cuối năm 1936, ông được kết nạp Đảng. Những năm này, ông chủ yếu tuyên truyền, vận động quần chúng, xây dựng niềm tin và tập hợp lực lượng, tạo nền tảng cho phong trào cách mạng ở Bắc Sơn.

Năm 1940, tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động. Ngày 22/9/1940, Nhật kéo quân từ Quảng Tây (Trung Quốc) vượt biên giới tấn công Pháp ở Lạng Sơn. Đây là thời cơ để Đảng bộ và quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn nổi dậy.

Tối 26/9/1940, tại thôn Nông Lục, xã Hưng Vũ, các đồng chí Dương Công Bình, Hoàng Văn Hán cùng một số đảng viên vừa thoát khỏi nhà tù thực dân ở Lạng Sơn trở về họp, nhận định tình hình, bàn phương án phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa vũ trang.

Sáng 27/9/1940, Ban Cán sự Châu ủy Bắc Sơn tổ chức họp tại đình Nông Lục, quyết định phát động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ngay trong ngày. Ban Chỉ huy cuộc khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Hoàng Văn Hán, Dương Công Bình, Hoàng Đình Ruệ, Đường Văn Thức và Nông Văn Cún, do Hoàng Văn Hán làm Chỉ huy trưởng. Mục tiêu tấn công đầu tiên là đồn Mỏ Nhài, châu lỵ Bắc Sơn.

Khoảng 20 giờ ngày 27/9/1940, dưới sự chỉ huy của ông Hoàng Văn Hán và các đảng viên chủ chốt, Nhân dân các xã đồng loạt tấn công đồn Mỏ Nhài. Trước khí thế của quân khởi nghĩa, Tri châu Hoàng Văn Sỹ cùng binh lính bỏ chạy sang châu Bằng Mạc.

Đồn Mỏ Nhài bị chiếm, châu lỵ Bắc Sơn được giải phóng. Cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng giành thắng lợi; Ban Chỉ huy cuộc khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân và tay sai.

Ẩn mình giữa vòng vây

Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, thực dân Pháp đưa quân trở lại chiếm đồn Mỏ Nhài, châu lỵ Bắc Sơn và đàn áp phong trào cách mạng.

Ông Hán được cấp trên giao tiếp tục hoạt động bí mật tại các khu căn cứ. Ngày 23/2/1941, Đội Cứu quốc quân 1 được thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ, gồm 32 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có ông Hoàng Văn Hán. Trong những năm tháng ấy, con trai cả của đồng chí là Hoàng Văn Mão (bố ông Tiệp) tham gia làm liên lạc với các công việc như đưa thư, chuyển lương thực và những vật dụng cần thiết cho lực lượng cách mạng. 

Các đại biểu dâng hương nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đội Cứu quốc quân 1 tại Khu Di tích Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ

Các đại biểu dâng hương nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đội Cứu quốc quân 1 tại Khu Di tích Khuổi Nọi, xã Vũ Lễ

Ông Tiệp chia sẻ: Bố tôi có khả năng phán đoán rất tài tình. Ví dụ, ông nội bảo hôm nay sẽ về nhà nhưng bố tôi hiểu rằng không thể chuẩn bị đón ngay. Phải khoảng 6 ngày sau, bố tôi mới chuẩn bị để đón, như vậy mới bảo đảm bí mật.

Những năm hoạt động bí mật cũng là quãng thời gian ông Hán thường xuyên đối mặt với sự truy lùng gắt gao của thực dân Pháp và tay sai. Năm 1943, khi bị sốt rét nặng, nằm liệt không đi lại được, ông chỉ thị cho đồng đội đưa mình về nhà người thím là bà Dương Thị Bông, ở thôn Nông Lục, xã Hưng Vũ ngay sát nhà mình, để chữa bệnh.

Với suy nghĩ “Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất”, ông Hán ẩn náu tại đây suốt khoảng 3 tháng, trong một chiếc giường bí mật dưới bàn thờ nhà bà Bông. Trong thời gian này, ông vẫn hoạt động cách mạng. Dưới ánh sáng chiếc đèn xà tưa (còn gọi là đèn mắt hổ), ông viết nội dung tuyên truyền, vận động gia đình, người thân và Nhân dân trong vùng ủng hộ lương thực cho Đội Cứu quốc quân.

Đầu năm 1945, sự truy lùng đối với ông Hán càng gắt gao. Tri châu Nguyễn Văn Phú cho tay sai treo phần thưởng 200 đồng bạc trắng và 2 tạ muối cho người bắt hoặc sát hại được ông. “Đó là một phần thưởng rất lớn vào thời điểm ấy, đồng thời cho thấy sự truy lùng quyết liệt của địch đối với người từng giữ cương vị Chỉ huy trưởng khởi nghĩa Bắc Sơn”, ông Tiệp thông tin.

Ngày 9/2/1945, giáp Tết Nguyên đán, tại Lân Áng, thôn Lương Minh, nay là Nông Lục, xã Hưng Vũ, Tri châu Nguyễn Văn Phú cùng một số người phản bội đã mật phục, sát hại ông Hoàng Văn Hán.

Sự hy sinh của ông càng làm dâng cao lòng căm thù giặc, trở thành nguồn cổ vũ đối với Đảng bộ và quần chúng cách mạng ở Bắc Sơn; góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh của Nhân dân, tạo tiền đề để phong trào cách mạng tiến tới Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Sự truy bức của kẻ thù không chỉ nhằm vào những người tham gia cách mạng mà còn trút xuống gia đình, làng bản nơi họ sinh sống. Trong các năm từ 1940 đến 1945, mỗi năm bà Dương Thị Xưởng, vợ ông Hán, cùng các con phải đi lao động khổ sai từ 3 đến 6 tháng cho chính quyền thực dân. Gia đình bà bị coi là có người chồng, người cha là “giặc cỏ”.  

Sau khi ông Hán hy sinh, phần thưởng 200 đồng bạc trắng và 2 tạ muối mà chính quyền treo để truy bắt ông trở thành nỗi ám ảnh đối với bà Xưởng. Ông Tiệp kể: Từ đó, bà nội tôi hình thành nỗi sợ muối, không dám trực tiếp chạm vào muối. Nỗi ám ảnh ấy theo bà đến những năm tháng cuối đời. Bà mất năm 2007.

Đã 86 năm trôi qua, dấu ấn của khởi nghĩa Bắc Sơn và trận đánh Mỏ Nhài vẫn được nhắc nhớ. Với gia đình ông Tiệp, ký ức về ông Hán được lưu giữ qua những câu chuyện về tháng ngày hoạt động bí mật, sự hy sinh và cả nỗi sợ muối của bà Dương Thị Xưởng. Những ký ức ấy góp phần lưu giữ hình ảnh người Chỉ huy trưởng khởi nghĩa Bắc Sơn kiên trung, bất khuất trong các thế hệ hôm nay và mai sau.

HOÀNG HUẤN

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/chuyen-ve-nguoi-chi-huy-truong-khoi-nghia-bac-son-5105120.html