Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Khó giữ chân người dân?
Nhiều hộ gia đình, cộng đồng phụ thuộc vào rừng đang đứng trước bài toán sinh kế khó khăn trong bối cảnh chi trả dịch vụ môi trường rừng còn hạn chế.
Khi ánh nắng ban sớm xuất hiện qua khe cửa, bà Phan Thị Huế (54 tuổi) lại vác chiếc túi cắt từ bao tải cũ lên vai, đi vào rừng. Một ngày của người phụ nữ Thái bắt đầu với rừng đều đặn suốt hơn 30 năm qua, khi thì làm rào nứa, khi thì phạt cây dại cho đất rừng, khi lại khai thác mét.
Điều khác là giờ đây, mỗi năm, bà được nhận thêm một nguồn thu nhập có tên chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) từ việc chăm sóc và bảo vệ rừng trên khu vực hơn 4ha của gia đình tại bản Sơn Hà, xã Tam Quang, tỉnh Nghệ An.
Việc quản lý, bảo vệ rừng bền vững và cảnh quan tự nhiên của Việt Nam được đánh giá rất quan trọng đối với an sinh và sức khỏe của các cộng đồng dân cư khắp cả nước. Rừng đóng vai trò chủ yếu trong việc chống xói mòn, duy trì vòng tuần hoàn nước và chống biến đổi khí hậu trong khi lâm sản ngoài gỗ cũng là nguồn dinh dưỡng và thu nhập quan trọng.
Thế nhưng, mảnh rừng ấy với bà Huế đơn giản chỉ là nguồn tiền mặt sẵn có vì PFES “không đủ ăn”, bà đáp khi được hỏi về số tiền nhận từ chương trình. “Trước cũng làm thuê nhưng giờ chẳng còn đủ sức khỏe, đi rừng được tí mô thì được”.
Không chỉ bà Huế, nhiều người đang phụ thuộc chặt chẽ vào rừng, trực tiếp bảo vệ rừng nhưng thành quả thụ hưởng từ chi trả dịch vụ môi trường rừng lại quá ít. Sự lệch pha này đặt khoảng 5 triệu lao động của các hộ gia đình, cá nhân tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ rừng trước bài toán sinh kế bấp bênh, từ đó làm mòn dần động lực giữ rừng từ gốc cho ngành lâm nghiệp.

Bà Phan Thị Huế trong một ngày đi rừng cuối tháng 10/2026. Ảnh: Hoàng Anh
Con đường của chi trả dịch vụ môi trường rừng
PFES được định nghĩa là quan hệ cung ứng và chi trả, trong đó, bên sử dụng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (công việc cung ứng các giá trị sử dụng của hệ sinh thái rừng như bảo vệ đất, hạn chế xói mòn; điều tiết và duy trì nguồn nước; hấp thụ và lưu giữ carbon rừng…).
Mục tiêu của cơ chế này là cải thiện chất lượng và diện tích đất rừng, giảm bớt gánh nặng tài chính cho nhà nước trong công tác bảo vệ, quản lý rừng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
“Một cách đơn giản, PFES nhằm tạo thêm nguồn thu cho chủ rừng, cho cộng đồng để họ có thêm động lực giữ rừng”, ông Nguyễn Chiến Cường, Cán bộ Điều phối đối tác lâm nghiệp cộng đồng tại RECOFTC Việt Nam, lý giải.
Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định, đối tượng chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm ngành thủy điện, nước sạch, công nghiệp, du lịch (du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí), tín chỉ carbon, thủy sản và các đối tượng khác.
Các bên này sẽ trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng, bao gồm ban quản lý rừng phòng hộ và ban quản lý rừng đặc dụng, công ty lâm nghiệp, chủ rừng (hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng), UBND xã và các tổ chức khác được giao quản lý rừng, các bên có hợp đồng nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng.

Theo văn bản hợp nhất số 13/VBHN-BNNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Đồ họa: KM (với công cụ ChatGPT)
Trước khi được đưa vào luật, Việt Nam đã triển khai thí điểm tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La giai đoạn 2009 - 2010, tạo nền tảng cho việc thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ rừng trên phạm vi toàn quốc. Đây là chính sách lâm nghiệp đầu tiên coi bảo vệ và phát triển rừng, hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và bảo tồn cảnh quan rừng là các dịch vụ.
Kết quả từ thời gian thí điểm cho thấy, các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, canh tác nương rẫy... đã giảm đáng kể tại các khu vực áp dụng cơ chế PFES.
Kỳ vọng vào nguồn thu mới
Theo Cục Lâm nghiệp và kiểm lâm, dịch vụ môi trường rừng là nguồn tài chính quan trọng, bền vững của ngành lâm nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho người làm nghề rừng và tham gia bảo vệ rừng.
Tổng nguồn thu từ các loại dịch vụ môi trường rừng ước tính thực hiện năm 2025 đạt khoảng 3.940 tỷ đồng. Đáng chú ý, nguồn tiền này đã góp phần quản lý bảo vệ hơn 7,45 triệu ha rừng, chiếm hơn một nửa tổng diện tích rừng toàn quốc. Ngoài ra, các hộ gia đình và cộng đồng dân cư còn được hưởng lợi gián tiếp từ chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng.

Kết quả thu dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2021 - 2025 (tỷ đồng). Nguồn: Báo cáo ngành lâm nghiệp 2025
Nhưng với bà Huế, một trong hơn 200 hộ gia đình được nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng tại bản Sơn Hà, số tiền hơn 2 triệu đồng hàng năm chẳng thể đủ trang trải cuộc sống dù chỉ có một mình. Những khó khăn về tài chính đã buộc người phụ nữ gầy guộc phải ‘xẻ rừng’ lấy mét bán cho thương lái để sống qua ngày. “Mét rẻ hơn cây keo nhưng chặt được quanh năm, cứ không có tiền là đi chặt", bà Huế cho hay. “Một cây ít nhất được 30.000 đồng. Cái này (rừng) như kho bạc, như két ấy”.
Chồng mất khi đứa con gái duy nhất chưa đầy năm, một mình bà Huế phải bám vào mảnh rừng từng ngày để mưu sinh. “Rừng đầu nguồn nên không được phát rẫy. Không đủ ăn nên lại nghèo, bản này lại nghèo là như thế”, bà trầm ngâm.
Khi thu nhập khó giữ chân người dân
Bà Phan Thị Tân, Bí thư Chi bộ bản Sơn Hà, cho biết, mức chi trả trung bình khoảng 300.000 đồng/ha quá ít ỏi với những gia đình mà cả người chồng và người vợ đều phụ thuộc vào việc làm rừng. “Chỉ có cách là đi công ty thêm, đi làm thuê làm mướn. Chứ để vươn lên thoát nghèo được là rất khó”. Một số gia đình buộc phải để lại con cái cho ông bà chăm sóc.
Trước đây khi chưa có PFES, người dân vẫn phải phụ thuộc vào nguồn lợi từ rừng. Sau khi có PFES, các hộ gia đình có thêm một nguồn thu nhập nhưng cũng đồng nghĩa rằng trách nhiệm với rừng nhiều hơn.
“Không có chuyện phá rừng trái phép nữa, không có phát rẫy nữa. Vẫn phải có người đi coi rừng, không bỏ được vì mình đã nhận trách nhiệm, pháp luật thì mình phải tuân thủ”, bà Tân chia sẻ.
Với các hộ gia đình ở gần rừng như bà Huế, mỗi lần đi rừng sẽ tốn khoảng nửa ngày, nhưng với các mảnh rừng ở xa, bà Tân cho biết sẽ cần ít nhất khoảng 3 ngày. Để giảm tần suất thăm rừng mà vẫn đảm bảo bảo vệ rừng, các hộ gia đình đã cùng nhau phân chia công việc theo tổ.
Bên cạnh đó, một số nhóm phụ nữ tại bản Sơn Hà đã trồng nấm tại nhà để gia tăng thu nhập. Các phôi nấm được treo lên giàn làm bằng các cây mát lấy từ rừng, được chăm sóc để tạo ra nấm thành phẩm.
Ngoài rừng, trồng dược liệu dưới tán rừng là một trong những nguồn sinh kế khác được kỳ vọng mở ra cơ hội mới cho người dân. Tuy nhiên, phương thức này đòi hỏi vị trí mảnh rừng cần ở gần hộ dân cùng sự chăm sóc cẩn thận.
“Đó, hắn (trồng dược liệu dưới tán rừng) cũng có cái phức tạp rứa. Ý dân muốn gửi gắm là nếu có thể được, chi trả để làm sao bà con đảm bảo được ít nhất một lao động ở nhà được, bởi vì rừng cũng cần có người trông coi”, bà Tân đề xuất. “Mặc dù bà con đã rất cố gắng nhưng mà để có một cuộc sống đảm bảo, để bật lên được lại đang rất khó khăn”.

Một số hộ gia đình khai thác mét để làm giàn trồng nấm. Ảnh: Hoàng Anh
Nghiên cứu tại hai xã Tam Hợp và Tam Thái của tỉnh Nghệ An năm 2024 chỉ ra rằng, khả năng phục hồi sinh kế trước biến đổi khí hậu của hộ gia đình tại các cộng đồng đang dựa vào rừng ở dưới mức có thể chấp nhận được.
Về tài chính, phần lớn hộ gia đình không có tiền gửi ngân hàng và không sở hữu đất nông nghiệp, phản ánh tình trạng thiếu tư liệu sản xuất và nguồn tài chính, gây khó khăn cho việc giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là các khu vực bảo tồn ở vùng núi. Tỷ lệ nghèo đói ở mức khá cao, với 2/3 số hộ gia đình được khảo sát nằm dưới ngưỡng nghèo.
Một khảo sát khác tại các xã nằm trong vùng đệm của Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé cũng cho thấy, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng thực tế vẫn còn thấp so với giá trị mà dịch vụ này tạo ra.
Ngoài ra, còn có sự chênh lệch về đơn giá bình quân cho 1ha rừng giữa các lưu vực và thượng lưu, hạ du của các lưu vực sông, tạo nên nguồn thu chênh lệch lớn giữa các địa phương, cộng đồng, hộ gia đình, ông Cường cho biết. Đơn cử, mức chi trả giữa các tỉnh có lưu vực thuộc cùng dòng sông chính (có nhà máy thủy điện) khác biệt khá lớn, có nơi chênh tới 5 lần, xuất phát từ cách tính nguồn thu từ thủy điện.
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện PFES công bố năm 2020 đã đề xuất Chính phủ và các bộ, ngành có quy định điều chỉnh đơn giá. Các địa phương có giải pháp cân đối kinh phí bảo vệ rừng nhưng sự chênh lệch này vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trong bối cảnh chi trả dịch vụ từ các nhà máy thủy điện đã chạm ngưỡng theo quy hoạch điện, theo ông Cường, cần các giải pháp để tăng nguồn thu như dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, giảm phát thải nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng.
Khi ánh nắng gắt đổ trên tán lá, bà Huế lau mồ hôi, khoác chiếc túi lên vai, tay còn lại ôm hai cây mét bước chậm rãi xuống núi. Bụi mét gần nhất đã trơ gốc sau vài lần chặt.
Khi những thu nhập từ rừng vẫn chưa đủ, mỗi bước chân bà Huế vào rừng vẫn là một sự giằng xé: giữ rừng cho tương lai hay phải khai thác rừng để sống qua ngày hôm nay?

