Chính phủ siết quy định tạm ứng và giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng
Nghị định 210/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 đã bổ sung nhiều quy định đáng chú ý về hợp đồng xây dựng. Trong đó, mức tạm ứng hợp đồng tối đa là 30% giá trị hợp đồng, đồng thời siết chặt yêu cầu bảo lãnh, thu hồi tạm ứng và xử lý tranh chấp.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về hợp đồng xây dựng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, với nhiều quy định mới liên quan đến tạm ứng hợp đồng, giải quyết tranh chấp và tạm dừng thực hiện hợp đồng.
Tạm ứng hợp đồng xây dựng tối đa 30%
Theo Nghị định, tạm ứng hợp đồng xây dựng là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước không tính lãi cho bên nhận thầu để triển khai các công việc theo hợp đồng.

Hình minh họa.
Đối với các dự án đầu tư công và dự án đối tác công tư (PPP), việc tạm ứng chỉ được thực hiện sau khi hợp đồng có hiệu lực và bên giao thầu nhận được bảo lãnh tạm ứng trong các trường hợp pháp luật yêu cầu. Riêng hợp đồng thi công xây dựng phải có kế hoạch hoặc biên bản bàn giao mặt bằng theo thỏa thuận.
Đáng chú ý, mức tạm ứng hợp đồng không được vượt quá 30% giá trị hợp đồng tại thời điểm ký kết, bao gồm cả chi phí dự phòng (nếu có). Trường hợp cần tạm ứng cao hơn để đặt cọc hoặc thanh toán trước cho nhà cung cấp vật tư, thiết bị phục vụ dự án thì phải được cấp có thẩm quyền cho phép.
Đối với hợp đồng có giá trị tạm ứng trên 1 tỷ đồng, nhà thầu phải nộp bảo lãnh tạm ứng với giá trị tương đương khoản tiền được ứng trước. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng có giá trị tạm ứng từ 1 tỷ đồng trở xuống hoặc các hợp đồng thực hiện theo hình thức cộng đồng dân cư.
Nghị định cũng quy định mức tạm ứng tối thiểu theo từng loại hợp đồng. Cụ thể, hợp đồng tư vấn được tạm ứng tối thiểu từ 15-20% giá trị hợp đồng; hợp đồng thi công xây dựng từ 10-20% tùy quy mô; các hợp đồng cung cấp vật tư, thiết bị và hợp đồng EPC được tạm ứng tối thiểu 10%.
Tiền tạm ứng sẽ được thu hồi dần qua các đợt thanh toán, nhưng phải bảo đảm thu hồi hết khi giá trị thanh toán cộng dồn đạt 80% giá trị hợp đồng.
Quy định rõ về giải quyết tranh chấp và tạm dừng hợp đồng
Nghị định cho phép các bên tự thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng. Trong quá trình xử lý tranh chấp, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ không bị ảnh hưởng bởi nội dung tranh chấp, tránh làm gián đoạn việc thực hiện hợp đồng.
Đáng chú ý, Nghị định bổ sung cơ chế thành lập "ban xử lý tranh chấp" theo thông lệ quốc tế. Các bên được quyền thỏa thuận về thời điểm thành lập, số lượng thành viên, tiêu chuẩn chuyên môn, quy trình hoạt động và giá trị pháp lý của các khuyến nghị, quyết định do ban này đưa ra. Thành viên ban xử lý tranh chấp phải bảo đảm tính độc lập, khách quan và không có xung đột lợi ích.
Về tạm dừng thực hiện hợp đồng, Nghị định quy định bên nhận thầu được quyền tạm dừng thi công nếu bên giao thầu chậm thanh toán vượt quá 28 ngày kể từ thời hạn thanh toán đã cam kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Một bên cũng có thể tạm dừng hợp đồng khi bên còn lại không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, việc tạm dừng phải được thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và thực hiện theo thời hạn đã thỏa thuận. Trường hợp tạm dừng không đúng quy định hoặc không thông báo, bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại.











