Kết quả thực hiện nhiệm vụ lập pháp là nội dung quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Bộ, cơ quan ngang Bộ
Chính phủ được giao thực hiện 171/192 nhiệm vụ lập pháp bao gồm các nhiệm vụ nghiên cứu, rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành và các nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng mới luật, pháp lệnh, nghị quyết, chiếm 90% tổng số nhiệm vụ lập pháp toàn khóa. Trong đó, năm 2026 có 104 nhiệm vụ, năm 2027 có 32 nhiệm vụ, năm 2028 có 23 nhiệm vụ và năm 2029 có 12 nhiệm vụ.
Chính phủ được giao thực hiện 171/192 nhiệm vụ lập pháp
Báo cáo tại Hội nghị triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết, Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo xây dựng Kế hoạch của Chính phủ để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ lập pháp thuộc phạm vi phụ trách.
Kế hoạch xác định rõ các nhiệm vụ lập pháp do các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì thực hiện trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI; phân công cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn thực hiện, sản phẩm đầu ra và cơ chế báo cáo kết quả.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh báo cáo tại Hội nghị triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Đồng thời, tạo cơ sở để các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ động xây dựng kế hoạch triển khai trong phạm vi ngành, lĩnh vực phụ trách; tổ chức nghiên cứu, rà soát, tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết khi đủ điều kiện.
Kế hoạch cũng thiết lập cơ chế theo dõi, đôn đốc, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ lập pháp trong suốt nhiệm kỳ, phù hợp với quá trình triển khai trên thực tế thường xuyên phát sinh yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết từ chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và từ thực tiễn quản lý nhà nước.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh báo cáo tại Hội nghị triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Cùng với đó, Kế hoạch phải bảo đảm yêu cầu 7 rõ: rõ người, rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ trách nhiệm. Việc phân công nhiệm vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, thống nhất; ưu tiên giao cơ quan đã đề xuất nhiệm vụ lập pháp, kế thừa các phân công đã có của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Về khối lượng nhiệm vụ lập pháp thuộc phạm vi Chính phủ phụ trách, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh cho biết, Theo Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16, Chính phủ được giao thực hiện 171/192 nhiệm vụ lập pháp bao gồm các nhiệm vụ nghiên cứu, rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành và các nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng mới luật, pháp lệnh, nghị quyết, chiếm 90% tổng số nhiệm vụ lập pháp toàn khóa. Trong đó, năm 2026 có 104 nhiệm vụ, năm 2027 có 32 nhiệm vụ, năm 2028 có 23 nhiệm vụ và năm 2029 có 12 nhiệm vụ. Riêng nhóm nhiệm vụ lập pháp năm 2026, Chính phủ đã hoàn thành 12 nhiệm vụ lập pháp và được Quốc hội thông qua các luật, nghị quyết ngay tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Qua dự kiến phân công cho thấy, một số Bộ sẽ phải chủ trì thực hiện một khối lượng nhiệm vụ lớn, như Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ. Nhóm nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế kinh tế, tài chính, ngân sách nhà nước, đầu tư công, quản lý nợ công, đầu tư kinh doanh, phát triển thị trường, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tổ chức bộ máy, tư pháp, quốc phòng, an ninh chiếm tỷ trọng đáng kể.
Để bảo đảm việc phân công nhiệm vụ lập pháp thuộc phạm vi Chính phủ phụ trách được thực hiện thống nhất, khách quan, rõ trách nhiệm và thuận lợi cho tổ chức thực hiện, Thứ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, dự thảo Kế hoạch của Chính phủ xác định nguyên tắc phân công cơ quan chủ trì theo thứ tự ưu tiên.

Các đại biểu tham dự hội nghị
Thứ nhất, đối với nhiệm vụ lập pháp do Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất thì dự kiến giao Bộ, cơ quan ngang Bộ đó chủ trì thực hiện. Đây là cơ quan trực tiếp nhận diện yêu cầu thực tiễn, nhu cầu chính sách, cơ sở đề xuất và định hướng xử lý đối với nhiệm vụ lập pháp.
Thứ hai, đối với những nhiệm vụ đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại các nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch, chiến lược, đề án hoặc văn bản chỉ đạo, điều hành có liên quan thì tiếp tục kế thừa phân công đã có; bảo đảm tính liên tục trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thứ ba, đối với các nhiệm vụ còn lại, việc xác định cơ quan chủ trì được thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực quản lý nhà nước trực tiếp, chủ yếu của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với ngành, lĩnh vực, chính sách, đối tượng điều chỉnh của nhiệm vụ lập pháp đó.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì nhiệm vụ lập pháp có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, rà soát hoặc nghiên cứu, xây dựng mới luật, pháp lệnh, nghị quyết theo nhiệm vụ được phân công. Theo yêu cầu của Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16, kết quả nghiên cứu, rà soát phải đề xuất rõ phương án xử lý theo một trong hai hướng: trường hợp chưa cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết thì phải nêu rõ giải pháp khác để bảo đảm thực hiện định hướng; trường hợp cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì phải xác định rõ tên văn bản, nội dung, định hướng chính sách, dự kiến thời điểm lập đề nghị đưa vào Chương trình lập pháp hằng năm, thời điểm trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, thông qua.
Chủ động phát hiện các nội dung cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết
Về tổ chức thực hiện, dự thảo Kế hoạch nêu rõ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng thực hiện các nhiệm vụ lập pháp được giao. Người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ phải trực tiếp chỉ đạo công tác nghiên cứu, rà soát, xây dựng chính sách; kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chủ trì nhiệm vụ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai nội bộ; phân công rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp; bảo đảm nguồn lực, kinh phí phục vụ công tác nghiên cứu, rà soát, đánh giá tác động chính sách, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động. Đối với các nhiệm vụ liên ngành, cơ quan chủ trì phải chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan ngay từ đầu; không để phát sinh tình trạng đùn đẩy, chờ đợi hoặc chỉ phối hợp hình thức.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm thường xuyên rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; chủ động phát hiện các nội dung cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết; kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và gửi Bộ Tư pháp tổng hợp để kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét điều chỉnh, bổ sung Định hướng lập pháp nhiệm kỳ hoặc đưa vào Chương trình lập pháp hằng năm theo quy định.

Các đại biểu tham dự hội nghị
Trước mắt, cần tập trung rà soát, xử lý các luật, pháp lệnh, nghị quyết cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, khơi thông nguồn lực, xử lý các vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn và bảo đảm tiến độ theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là các nhiệm vụ cần hoàn thành trước ngày 1/3/2027.
Về phía Bộ Tư pháp, Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh nhấn mạnh, Bộ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp việc thực hiện Kế hoạch của Chính phủ; chủ trì tổng hợp báo cáo kết quả nghiên cứu, rà soát của các Bộ, cơ quan ngang Bộ để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và phục vụ việc Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bộ Tư pháp chủ trì tổng hợp, cập nhật danh mục nhiệm vụ lập pháp thuộc phạm vi Chính phủ phụ trách; tham mưu Chính phủ trong việc kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh, bổ sung Định hướng lập pháp nhiệm kỳ hoặc đưa nhiệm vụ vào Chương trình lập pháp hằng năm.
Liên quan đến cơ chế phối hợp với các cơ quan của Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Tư pháp nêu rõ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì nhiệm vụ lập pháp chủ động phối hợp từ sớm, từ xa với Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, nhất là cơ quan được phân công theo dõi, đôn đốc tại phụ lục của Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16. Việc phối hợp cần được thực hiện ngay từ giai đoạn nghiên cứu, rà soát, xây dựng chính sách, không chỉ ở giai đoạn thẩm tra hoặc tiếp thu, chỉnh lý dự án.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm gửi kết quả nghiên cứu, rà soát đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định; đồng thời gửi đến Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách để phục vụ công tác theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện. Đối với những nhiệm vụ lớn, phức tạp, có phạm vi tác động rộng hoặc còn ý kiến khác nhau, cơ quan chủ trì cần chủ động báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để thống nhất định hướng xử lý trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.
Kiểm soát chất lượng chính sách ngay từ giai đoạn nghiên cứu
Để bảo đảm chất lượng, tiến độ thực hiện Kế hoạch, Chính phủ xác định 5 giải pháp trọng tâm.
Một là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; coi kết quả thực hiện nhiệm vụ lập pháp là một nội dung quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Bộ, cơ quan ngang Bộ, nhất là đối với các nhiệm vụ trọng tâm, phức tạp, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là những nội dung đang được Chính phủ chỉ đạo, triển khai rất quyết liệt, thể hiện qua việc giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, tham mưu các đề án như “Đề án về chỉ số đánh giá, chấm điểm KPI đối với công tác xây dựng pháp luật” và “Đề án soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tập trung, chuyên nghiệp”.

Các đại biểu tham dự hội nghị
Hai là, kiểm soát chất lượng chính sách ngay từ giai đoạn nghiên cứu, rà soát, đánh giá tác động của chính sách. Làm rõ mức độ phù hợp, tính khả thi, hiệu quả thực tế của các quy định pháp luật hiện hành; nhận diện đầy đủ các bất cập, hạn chế, mâu thuẫn, chồng chéo, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành và nguyên nhân. Việc đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết phải dựa trên tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động đầy đủ, lấy ý kiến thực chất đối tượng chịu sự tác động, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội, doanh nghiệp và người dân; đồng thời kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để lồng ghép lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật.
Ba là, bảo đảm sự gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; chú trọng nhận diện các điểm nghẽn pháp lý, quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp. Đồng thời, hoàn thiện các giải pháp trong tổ chức thi hành pháp luật, nhất là tăng cường kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao hiệu quả theo dõi thi hành pháp luật và đánh giá hiệu quả văn bản sau khi ban hành.
Bốn là, củng cố tổ chức pháp chế, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật; bảo đảm kinh phí, điều kiện làm việc, cơ sở dữ liệu, chuyên gia phục vụ các khâu của quy trình lập pháp, nhất là tổng kết thực tiễn, khảo sát, đánh giá tác động, tham vấn chính sách và tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý.
Năm là, nghiên cứu, xây dựng Luật về văn bản quy phạm pháp luật thay thế Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thể chế hóa đầy đủ Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Việc hoàn thiện Dự án Luật này sẽ góp phần đổi mới phương thức lập pháp, nâng cao chất lượng chính sách, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, bảo đảm tiến độ, kỷ luật, kỷ cương và tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong quá trình triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.













