Chính sách tài khóa tạo lực cho chặng “về đích”, đưa GDP tăng trưởng hai con số
Chính sách tài khóa đang trở thành “trụ lực” quan trọng cho tăng trưởng, góp phần khơi thông nguồn lực. Trong giai đoạn “về đích” cuối năm, trọng tâm là tạo “hợp lực” giữa chính sách tài khóa - tiền tệ, khai thác dư địa chiến lược và hiện thực hóa các cơ chế tài chính đột phá, qua đó, tiếp sức mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam: “Trụ lực” quan trọng đối với tăng trưởng

Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn rộng như những năm trước do áp lực lạm phát gia tăng, chính sách tài khóa đã trở thành “trụ lực” quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy, việc đẩy mạnh đầu tư công, nâng cao hiệu quả giải ngân, thực hiện các chính sách miễn, giảm và gia hạn thuế đã góp phần cải thiện thanh khoản cho doanh nghiệp, nuôi dưỡng nguồn thu và tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân mở rộng đầu tư.
Đầu tư công không chỉ trực tiếp tạo ra tăng trưởng, mà còn đóng vai trò là “vốn mồi”, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với đầu tư tư nhân và dòng vốn FDI. Cùng với việc tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, chi phí logistics và vận tải của doanh nghiệp từng bước được giảm xuống, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Điểm nổi bật trong điều hành chính sách tài khóa từ đầu năm 2026 đến nay là tư duy tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm; chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt. Trong khi đầu tư công được đẩy mạnh, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động điều tiết lượng tiền thông qua các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở để bảo đảm thanh khoản hệ thống và hạn chế áp lực lạm phát. Ngược lại, các chính sách miễn, giảm thuế, phí cũng đã chia sẻ áp lực với chính sách tiền tệ trong hỗ trợ doanh nghiệp, thay vì chỉ trông chờ vào việc giảm lãi suất.
Quan trọng hơn, khi các dự án hạ tầng trọng điểm được triển khai, không gian phát triển mới được mở ra, tạo điều kiện để tín dụng ngân hàng chảy vào những lĩnh vực có năng suất cao hơn như khu công nghiệp, năng lượng, chuyển đổi số và tăng trưởng xanh. Đây chính là hiệu ứng bổ trợ mà hai chính sách cùng tạo ra đối với nền kinh tế.
Đồng thời, ngoài sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cần tăng cường tính đồng bộ với các chính sách phát triển công nghiệp, hạ tầng, lưu thông hàng hóa và phát triển thị trường nhằm tạo môi trường thuận lợi để các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn.
Để thúc đẩy tăng trưởng theo mục tiêu đề ra, trong thời gian tới, chính sách tài khóa tiếp tục đóng vai trò quan trọng, cùng với sự phối hợp của chính sách tiền tệ và những chính sách khác, đảm bảo được sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và duy trì niềm tin của thị trường.
TS. Nguyễn Minh Phong - Chuyên gia kinh tế: Hiện thực hóa các cơ chế tài chính đột phá

Bằng việc điều chỉnh các mức thu, cũng như nhiệm vụ chi của ngân sách, thời gian vừa qua, chính sách tài khóa đã đóng góp rất tích cực vào việc khai thác nguồn lực và thúc đẩy động lực tăng trưởng của đất nước.
Cụ thể, về nguồn thu, việc giảm một loạt các nghĩa vụ tài chính, bao gồm miễn giảm, gia hạn thuế, phí và tiền thuê đất đã giúp doanh nghiệp có thêm nguồn lực, gia tăng nguồn vốn khả dụng với chi phí rẻ. Từ đó, doanh nghiệp giảm bớt chi phí vay vốn và có thêm động lực tăng trưởng. Đây là một trong những tác động tích cực và quan trọng nhất.
Về nhiệm vụ chi, thông qua việc điều chỉnh và điều hành các khoản chi một cách linh hoạt, Chính phủ đã nâng cao năng lực và hiệu quả chi tiêu công. Điều này bảo đảm nguồn vốn được sử dụng tốt nhất, nhanh nhất, liên tục; hạn chế tình trạng ứ đọng, thiếu hụt vốn.
Có thể thấy rằng, bằng cách tiếp cận “đi hai chân”, vừa điều chỉnh nguồn thu để hỗ trợ doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả các nhiệm vụ chi, chính sách tài khóa đã phát huy hiệu quả trong việc huy động nguồn lực, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn mới, cần tập trung vào ba trụ cột trọng tâm sau để điều hành chính sách tài khóa hỗ trợ hiệu quả. Trước hết, tiếp tục giảm thiểu gánh nặng chi phí cho người dân và doanh nghiệp, cần tạo động lực tăng trưởng kinh tế từ chính các khoản giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, giá dịch vụ công, chi phí đầu vào... đặc biệt cho các doanh nghiệp đang khó khăn về thị trường và đổi mới sáng tạo.
Tiếp đến, ứng dụng số hóa mạnh mẽ hơn vào các thủ tục hành chính nhằm bảo đảm sự công khai, tăng khả năng giám sát, kiểm soát dòng tiền, tránh thất thoát và tiêu cực. Việc này cũng giúp rút ngắn quy trình ra quyết định, từ đó điều phối dòng vốn kịp thời theo nhu cầu thực tiễn.
Cuối cùng, cần sớm hiện thực hóa các cơ chế tài chính đột phá. Sau các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, thu hút FDI… hiện vẫn còn thiếu các cơ chế tài chính thực sự đột phá. Do vậy, cần sớm thí điểm các mô hình như trung tâm tài chính hay cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Nếu chỉ dừng lại ở các biện pháp giảm thuế đơn thuần thì tiến độ triển khai sẽ rất chậm và thiếu đi tính đột phá cần thiết cho nền kinh tế.
TS. Nguyễn Văn Hiến - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing: Công cụ quan trọng nhất giúp Việt Nam khơi thông nguồn lực

Thời gian gần đây, chính sách tài khóa đã trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất giúp Việt Nam khơi thông nguồn lực, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và duy trì đà tăng trưởng cao.
Tuy nhiên, chính sách tài khóa nếu không được phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng với các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì không những không phát huy được tác dụng mà còn làm triệt tiêu tác dụng của chính sách khác và ngược lại. Vì vậy, đánh giá vai trò của chính sách tài khóa không chỉ đơn thuần xem xét tác động của riêng chính sách tài khóa mà phải xem xét tác động đồng bộ với các chính sách khác.
Trong đó, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Việt Nam nhìn chung đã được phối hợp theo hướng hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn chú trọng ổn định kinh tế vĩ mô. Chính sách tài khóa đảm nhận vai trò chủ động hơn thông qua đẩy mạnh đầu tư công, giảm và gia hạn thuế, phí, hỗ trợ doanh nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, chính sách tài khóa - tiền tệ phải được đặt trong mối quan hệ với chính sách thương mại, đầu tư, giá cả, đất đai và cải cách thể chế. Vốn đầu tư công chỉ phát huy hiệu quả khi các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư và nguồn cung vật liệu được tháo gỡ; tín dụng chỉ được hấp thụ tốt khi doanh nghiệp có đơn hàng và thị trường tiêu thụ; còn giảm thuế chỉ tạo ra tác động bền vững nếu môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện thực chất.
Trong thời gian tới, chính sách tài khóa cần chuyển mạnh từ chú trọng mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Yêu cầu đặt ra không chỉ là giải ngân nhanh mà còn phải lựa chọn đúng dự án, kiểm soát chi phí, chống thất thoát và bảo đảm hiệu quả lan tỏa.
Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp chính sách dựa trên dữ liệu và các kịch bản kinh tế vĩ mô chung, trong đó xác định rõ mục tiêu ưu tiên và các ngưỡng cảnh báo về lạm phát, tăng trưởng tín dụng, bội chi ngân sách, nợ công và tỷ giá.
Khi chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác được điều hành đúng vai, đúng liều lượng và đúng thời điểm, chúng sẽ tạo thành một “hợp lực chính sách”: vừa hỗ trợ tăng trưởng trước mắt, vừa mở rộng năng lực sản xuất và củng cố nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô trong dài hạn.

Ảnh: Đức Thanh
TS. Nguyễn Đức Độ - Chuyên gia kinh tế: Tạo lực đẩy tăng trưởng hai con số và những áp lực cần cân đối

Hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số cuối năm, việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công có thể tạo tác động trực tiếp và nhanh chóng lên GDP. Tuy nhiên, tốc độ giải ngân cao cũng kéo theo một số áp lực cần lưu ý.
Theo đó, khi hàng loạt dự án lớn được triển khai đồng thời, nhu cầu nguyên vật liệu và lao động tăng mạnh, đẩy giá đầu vào và mặt bằng tiền lương đi lên. Các doanh nghiệp lớn tham gia nhiều dự án có xu hướng tăng lương để thu hút lao động, kéo theo cạnh tranh nhân lực và mặt bằng lương cùng đi lên, qua đó, gia tăng chi phí, thu hẹp lợi nhuận. Một số ngành thậm chí đối mặt tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”.
Đầu tư công tăng tốc kéo nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc tăng theo. Nếu nhập khẩu vượt xuất khẩu, cán cân thương mại có thể thâm hụt, gia tăng áp lực tỷ giá.
Bên cạnh đó, việc giảm thuế cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế 2026 - 2027 đối với một số đối tượng có doanh thu dưới 10 tỷ đồng, có thể khơi thông thêm nguồn lực cho khu vực tư nhân, nhất là khi các hộ kinh doanh đang phải thích ứng với nhiều thay đổi.
Trước hết, nhóm này chịu tác động lớn từ sự phát triển của thương mại điện tử và phải đáp ứng chặt chẽ hơn các yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa. Do chưa có nhiều thời gian để thích nghi với những quy định mới, hoạt động của một bộ phận còn thu hẹp quy mô. Tuy nhiên, siết quản lý nguồn gốc hàng hóa và tuân thủ thuế là yêu cầu cần thiết, thay vì duy trì tình trạng lỏng lẻo như trước; do đó, các hộ kinh doanh cần từng bước thích ứng.
Khi thuế giảm và môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thêm dư địa tái đầu tư, mở rộng sản xuất và tạo việc làm. Quan trọng hơn, chính sách cũng góp phần hỗ trợ rộng hơn tới khu vực kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và khu vực phi chính thức, thay vì nguồn lực chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp lớn. Nếu những khu vực này không được quan tâm đúng mức, khó khăn kéo dài có thể tạo thêm sức ép đối với việc làm, thu nhập và an sinh xã hội.
Ngoài ra, trong bối cảnh hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát dưới 4,5% là điều kiện quan trọng để duy trì dư địa cho các chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Để đạt mục tiêu này, cần hội tụ nhiều yếu tố.
Một là, từ nay đến cuối năm, giá dầu cần giảm đáng kể, song đây là yếu tố bên ngoài mà Việt Nam khó chủ động kiểm soát. Hai là, các chính sách hỗ trợ thuế đối với xăng dầu có thể cần duy trì, thậm chí kéo dài đến hết năm thay vì chỉ đến cuối tháng 9. Ba là, giá các dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục cần được điều chỉnh ở mức hợp lý, tránh tăng mạnh. Ngoài ra, ổn định tỷ giá cũng là điều kiện quan trọng để hạn chế áp lực lạm phát nhập khẩu.
Ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam: Chủ động chính sách tài khóa, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn

Chính sách tài khóa và tiền tệ trong nửa đầu năm 2026 đã góp phần hỗ trợ tăng trưởng và duy trì ổn định vĩ mô. Kết quả GDP 6 tháng đầu năm cho thấy, các động lực tăng trưởng đang phát huy tác dụng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn, điều hành chính sách cần chuyển từ trạng thái “hỗ trợ phục hồi” sang “duy trì tăng trưởng có kiểm soát”.
Với Việt Nam, ổn định kinh tế vĩ mô chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn. Nếu chính sách chỉ tập trung thúc đẩy tăng trưởng trước mắt, mà làm gia tăng áp lực lạm phát, tỷ giá, chất lượng tín dụng hoặc rủi ro tài chính, thì chi phí điều chỉnh sau này có thể lớn hơn. Số liệu 6 tháng đầu năm cho thấy, nền kinh tế đang tăng trưởng rất mạnh, nhưng các sức ép vĩ mô cũng rõ hơn. Lạm phát bình quân ở mức trên 4%, nhập siêu tăng, trong khi tỷ giá chịu tác động từ biến động bên ngoài. Vì vậy, điều hành chính sách trong nửa cuối năm cần thận trọng, linh hoạt và có trọng tâm hơn.
Lựa chọn phù hợp cho Việt Nam là tiếp tục duy trì cách tiếp cận cân bằng. Chính sách tiền tệ cần linh hoạt nhưng thận trọng, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát rủi ro lạm phát, tỷ giá và tín dụng. Dư địa tiền tệ vẫn còn, nhưng hẹp hơn so với giai đoạn trước. Do đó, không nên nới lỏng đại trà, mà cần hướng tín dụng vào sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ và các lĩnh vực tạo năng suất.
Trong khi đó, chính sách tài khóa nên đóng vai trò chủ động hơn. Ưu tiên là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, nhưng phải bảo đảm chất lượng dự án, tập trung vào hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, lưới điện, hạ tầng số, thích ứng khí hậu, giáo dục kỹ năng và y tế. Đây là các lĩnh vực vừa hỗ trợ tổng cầu ngắn hạn, vừa nâng năng lực cạnh tranh dài hạn.
Bên cạnh đó, cần sử dụng dữ liệu có hệ thống hơn để hướng chính sách đi đúng mục tiêu hơn. Với dữ liệu tín dụng, dữ liệu doanh nghiệp, tài chính số và các công cụ giám sát theo rủi ro, chính sách tiền tệ có thể hỗ trợ đúng khu vực sản xuất mà không khuyến khích dòng vốn chảy vào các lĩnh vực có tính đầu cơ cao. Về tài khóa, đầu tư công hiệu quả không chỉ là giải ngân nhanh, mà là tạo nền tảng để khu vực tư nhân đầu tư nhiều hơn với chi phí thấp hơn và rủi ro thấp hơn.
TS. Nguyễn Quốc Việt - Chuyên gia chính sách công, Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội): Ba giải pháp kích hoạt dư địa chính sách tài khóa

Điều hành chính sách tiền tệ trong 4 tháng cuối năm 2026 bắt buộc phải lấy ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống làm “mỏ neo” chiến lược. Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa phải vươn lên đóng vai trò là "lực kéo” chủ đạo duy trì đà tăng trưởng vĩ mô, thông qua việc kích thích tổng cung và tổng cầu. Việt Nam nắm giữ lợi thế lớn nhờ tỷ lệ nợ công đang ở mức an toàn khoảng 34 - 37% GDP, tạo nên bộ đệm tài khóa dồi dào để thực thi các biện pháp phản chu kỳ.
Trong giai đoạn bứt tốc 4 tháng cuối năm, chính sách tài khóa cần tập trung khai thác các dư địa chiến lược.
Giải pháp ưu tiên hàng đầu là đẩy nhanh tốc độ giải ngân khoản vốn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công của năm 2026 theo cơ chế cuốn chiếu, đóng vai trò “vốn mồi” để kích hoạt nguồn lực tư nhân. Nguồn vốn công cần tập trung dứt điểm vào các dự án hạ tầng giao thông - logistics mang tính kết nối liên vùng như: tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh, cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi và Sân bay Quốc tế Long Thành.
Để bảo đảm nguồn tài chính cho các công trình trọng điểm này, Chính phủ cần quyết liệt thực hiện quy định của Nghị quyết số 01/NQ-CP, cắt giảm và tiết kiệm ngay 5% dự toán chi đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương để dồn vốn cho dự án đường sắt chiến lược, đồng thời tiết kiệm 10% chi thường xuyên để bổ sung cho các chương trình an sinh xã hội.
Giải pháp thứ hai, tiếp tục đòn bẩy kích cầu tiêu dùng nội địa. Việc duy trì chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng đến hết năm 2026 sẽ trực tiếp hỗ trợ thu nhập thực tế của người dân, qua đó, thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng - khu vực hiện vẫn cần thêm động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng dài hạn.
Giải pháp thứ ba, áp dụng các chính sách hỗ trợ tài khóa có mục tiêu nhằm bảo vệ năng lực sản xuất của khu vực doanh nghiệp nội địa. Một mặt, thông qua gói chính sách giảm 30% thuế cho các doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ/năm, bên cạnh việc kéo dài các chính sách gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất và giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu.
Để hỗ trợ giảm chi phí gia nhập thị trường quốc tế cho khối DN nội địa, Nhà nước cần sử dụng ngân sách để hỗ trợ trực tiếp từ 50 - 100% chi phí cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi thực hiện đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ quốc tế, kiểm định chất lượng và áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất xanh.
