Từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường
Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập, trăn trở của Việt Nam không còn chỉ là làm thế nào để thoát nghèo, mà câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao, có năng lực tự chủ và có vị thế xứng đáng trong thế giới đang thay đổi rất nhanh.
Tổ quốc trên hết
Ngày 2/9/2026, Tết Độc lập năm nay, khi cả nước đang trong “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, tác giả của bài viết này lại nhớ về chuyến đi của 15 năm trước - một chuyến đi dài với các cựu chiến binh Sư đoàn 304 về chiến trường xưa ở Quảng Trị và Quảng Nam (nay là Đà Nẵng).
Một trong những điểm đến linh thiêng của chuyến xe toàn màu áo lính ấy là Động Ông Đô (cách thị xã Quảng Trị cũ khoảng 20 km), nơi xương thịt của biết bao người lính tuổi mười tám, đôi mươi vẫn nằm cùng sim, mua tím biếc. Năm ấy, giữa tán rừng xanh mướt, khi tiếng hát của người phụ nữ trong đoàn cất lên “dòng tên anh khắc vào đá núi, mây ngàn hóa bóng cây che…”, cây lá xung quanh cũng rì rào chuyển động như đệm đàn cho tiếng hát chất chứa sự biết ơn của những người đang sống, đang được hưởng thành quả vô giá của hòa bình, độc lập.
Tôi hỏi, biết rõ là đồng đội hy sinh ở đây, sao hòa bình rồi không tìm hài cốt đưa về, một cựu chiến binh rưng rưng: “Chiến trường khi đó vô cùng ác liệt, có khi chưa kịp đưa xác anh em vào hầm thì đạn pháo đã cày nát cả một vùng”.

Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế mới, với khát vọng mãnh liệt phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ảnh: Lê Toàn
Bởi thế, trưa hôm ấy, những người lính cứ nương theo trí nhớ mà châm cho bạn mình điếu thuốc hay bẻ miếng lương khô ở nơi ngày xưa bạn đã từng gối đất nằm sương.
Vị tướng từng là Sư trưởng Sư đoàn 304, trực tiếp chiến đấu tại nơi ác liệt nhất của chiến trường miền Trung đỏ lửa bảo rằng: “Chúng tôi - những người chỉ huy - cũng đã có thể có những lỗi lầm, nhưng tinh thần quyết tử vì Tổ quốc - Tổ quốc trên hết có anh em chứng giám, những lỗi lầm ấy vì thế mà có thể được tha thứ”.
“Tổ quốc trên hết”, đó cũng là dòng chữ đầu tiên mà nhiều lớp học sinh ở Quảng Nam (cũ) nhìn thấy ngay từ lớp vỡ lòng, phía trên tấm bảng đen, ở vị trí cao nhất trong lớp học của mình, một vị CEO quê gốc Quảng Nam chia sẻ như thế khi tôi kể lại chuyến đi về chiến trường xưa.
Cũng theo vị CEO ấy, đối với người Việt Nam, Tổ quốc phải là trên hết. Nếu không, đã không thể có ngày Độc lập của 81 năm về trước, mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Đất Việt đã nhiều phen nguy biến, nhưng khi nào những người lãnh đạo cao nhất khiến nhân dân tin rằng, với họ, “Tổ quốc là trên hết” thì nhất định sẽ vượt qua bất cứ thử thách nào, vị doanh nhân đúc kết.
Từ Độc lập đến Đổi mới và Kỷ nguyên mới
Ngày 2/9/1945 là một trong những dấu mốc lớn nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập khi ấy trước hết là quyền tự quyết của một dân tộc; nhưng sâu xa hơn, độc lập còn mở ra quyền được xây dựng một đất nước của chính mình, một nền kinh tế của chính mình và một tương lai do chính mình lựa chọn.
Tám mươi mốt năm nhìn lại, hành trình ấy có thể được nhìn qua 3 bước chuyển lớn: giành độc lập, thực hiện Đổi mới và bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Sau ngày độc lập, đất nước phải trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài và những thử thách khắc nghiệt. Khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam đứng trước nhiệm vụ to lớn là khôi phục và xây dựng lại nền kinh tế. Nhưng những năm sau đó, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp ngày càng bộc lộ những hạn chế. Đến giữa những năm 1980, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng: sản xuất trì trệ, thiếu lương thực, lạm phát rất cao, đời sống nhân dân rất khó khăn.
Trong bối cảnh đó, Đổi mới năm 1986 là một bước ngoặt lịch sử. Đổi mới trước hết là sự thay đổi tư duy về phát triển. Từ chỗ coi kế hoạch hóa tập trung và bao cấp là phương thức chủ yếu để tổ chức nền kinh tế, Việt Nam từng bước thừa nhận vai trò của thị trường, phát triển nhiều thành phần kinh tế, mở cửa nền kinh tế và hội nhập quốc tế.
Những quyết sách tưởng như rất bình thường ngày nay - trao quyền tự chủ cho hộ nông dân, thừa nhận kinh tế tư nhân, cải cách doanh nghiệp, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng quyền tự do kinh doanh - thực chất đã tạo nên một cuộc giải phóng sức sản xuất rất lớn.
Bốn mươi năm sau, thành quả của Đổi mới là rất rõ ràng.
Từ một nền kinh tế nghèo, thiếu lương thực và bị cô lập, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có quy mô lớn hơn nhiều lần, thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình, có quan hệ thương mại với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới. Hàng chục triệu người đã thoát nghèo. Cơ sở hạ tầng, đô thị, giáo dục, y tế và mức sống của người dân được cải thiện đáng kể. Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới.
Một dấu ấn đặc biệt khác là hội nhập quốc tế. Từ ASEAN, APEC, WTO đến các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế tương đối khép kín thành một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất thế giới. Dòng vốn FDI và sự tham gia vào các chuỗi sản xuất toàn cầu đã tạo ra một bước phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và xuất khẩu.
Nhưng nhìn lại 40 năm Đổi mới không chỉ để tự hào về những gì đã đạt được. Quan trọng hơn, phải nhận diện những giới hạn của mô hình tăng trưởng đã tạo nên thành công trong quá khứ, một vị chuyên gia kinh tế luôn đau đáu với đổi mới thể chế chia sẻ với người viết.
Kiến tạo thể chế cũng là một mặt trận của thời đại mới
“Từ công việc ở cơ sở đến việc tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách và thể chế, tôi càng cảm nhận rằng, kiến tạo thể chế cũng là một mặt trận của thời đại mới. Nếu thế hệ trước cầm súng để bảo vệ nền độc lập, thì thế hệ hôm nay phải dùng trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm để xây dựng nền tảng cho phát triển”.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đình Xuân - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh
Ông nói, một nền kinh tế không thể mãi dựa vào lao động giá rẻ, đất đai, tài nguyên, vốn đầu tư và mở rộng quy mô. Năng suất lao động, năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa với những nền kinh tế phát triển. Khu vực FDI đang giữ vai trò rất lớn trong xuất khẩu và sản xuất công nghiệp, trong khi khả năng tham gia sâu của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.
Đó chính là điểm mà kỷ nguyên mới đặt ra một yêu cầu khác với Đổi mới trước đây.
Nếu Đổi mới năm 1986 chủ yếu là giải phóng sức sản xuất, thì giai đoạn phát triển mới phải là giải phóng sức sáng tạo và hấp thụ khoa học công nghệ. Nếu trước đây chúng ta cạnh tranh bằng chi phí thấp và nguồn lao động dồi dào, thì tương lai phải cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo.
Việt Nam không thể chỉ trở thành một công xưởng lớn hơn; Việt Nam phải từng bước trở thành một trung tâm sản xuất, công nghệ, dịch vụ và đổi mới sáng tạo có vị trí trong khu vực và thế giới. Doanh nghiệp Việt Nam không chỉ làm nhà thầu, nhà cung ứng cấp thấp, mà phải từng bước làm chủ công nghệ, thương hiệu và những khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.
Điều đó đòi hỏi một cuộc cải cách thể chế sâu hơn. Nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và phục vụ phát triển; thị trường phải được vận hành minh bạch, cạnh tranh và bình đẳng hơn; nguồn lực đất đai, vốn, con người và dữ liệu phải được phân bổ theo hiệu quả thay vì theo cơ chế xin - cho. Cùng với đó là yêu cầu xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam đủ mạnh, có khát vọng vươn ra toàn cầu.
Kỷ nguyên mới cũng không thể chỉ được đo bằng tốc độ tăng GDP. Một Việt Nam giàu mạnh phải đồng thời là một Việt Nam có chất lượng sống cao, môi trường được bảo vệ, xã hội có cơ hội phát triển công bằng và người dân được hưởng thành quả của tăng trưởng.
Vì vậy, nhìn từ ngày 2/9/1945 đến hôm nay, có thể thấy một logic xuyên suốt: độc lập tạo ra quyền tự quyết; Đổi mới tạo ra sức sản xuất; hội nhập tạo ra không gian phát triển; còn kỷ nguyên mới đòi hỏi Việt Nam phải tạo ra sức sáng tạo và năng lực cạnh tranh của chính mình.
Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập, câu hỏi của Việt Nam không còn chỉ là làm thế nào để thoát nghèo. Câu hỏi lớn hơn là: làm thế nào để trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao, có năng lực tự chủ và có vị thế xứng đáng trong thế giới đang thay đổi rất nhanh?
Câu trả lời sẽ không đến từ một chính sách đơn lẻ. Nó đòi hỏi một cuộc chuyển đổi đồng bộ về thể chế, kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục, doanh nghiệp và con người. Biến những thành quả của Đổi mới thành nền tảng để đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên phát triển mới - một Việt Nam giàu mạnh, sáng tạo, tự tin và có khả năng đóng góp nhiều hơn cho khu vực và thế giới. Đó có lẽ cũng là cách thiết thực nhất để tiếp nối ý nghĩa của ngày 2/9: độc lập không chỉ là đích đến của một dân tộc, mà còn là điểm khởi đầu cho khát vọng xây dựng một đất nước hùng cường.
Trao lại cho thế hệ mai sau một đất nước giàu mạnh hơn
Quốc hội khóa XVI vừa bế mạc Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, cũng là kỳ họp thứ hai trong vòng nửa năm, kể từ khi kết quả cuộc bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ mới được công bố vào cuối tháng 3/2026.
Cần thêm một kỳ họp không thường lệ, là để “thể chế và thực thi ngay các chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp, không chậm trễ, không để lỡ thời cơ phát triển của đất nước” - như nhấn mạnh của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khi phát biểu khai mạc.

Dòng vốn FDI và sự tham gia vào các chuỗi sản xuất toàn cầu đã tạo ra bước phát triển mạnh mẽ cho công nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh
Cũng chính vì “không để lỡ thời cơ phát triển của đất nước” mà không phải đến kỳ họp này, cơ quan lập pháp mới “tăng tốc” sửa luật, ban hành nhiều chính sách mới làm điểm tựa vững chắc cho tăng trưởng và an sinh xã hội.
Gần 2 năm trước, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ “thể chế đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn” và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển. Dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Biến khát vọng hòa bình thành khát vọng phát triển
"Nhìn từ Quảng Trị - mảnh đất từng mang trên mình những vết thương sâu của chiến tranh, tôi càng cảm nhận rõ ý nghĩa của hai chữ “phát triển”. Một vùng đất từng là giới tuyến hoàn toàn có thể trở thành nơi kết nối; một chiến trường năm xưa có thể trở thành điểm đến của hòa bình; một địa phương ở tuyến đầu của chiến tranh có thể vươn lên thành cửa ngõ giao thương trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan và rộng hơn là khu vực.
Đó cũng là hình ảnh thu nhỏ của hành trình Việt Nam: biến đau thương thành sức mạnh, biến chia cắt thành kết nối, biến khát vọng hòa bình thành khát vọng phát triển".
Ông Hà Sỹ Đồng - nguyên quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, đại biểu Quốc hội khóa XIII, XIV, XV
Thực hiện yêu cầu đổi mới đó, chỉ riêng năm 2025, tại 3 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 89 luật, 91 nghị quyết. Riêng Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã “lập kỷ lục” về công tác xây dựng pháp luật, thông qua 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật; quyết định nhiều cơ chế, chính sách quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tháng 4 năm nay, tại Kỳ họp thứ nhất, không chỉ dừng ở công tác nhân sự như thông lệ các kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ, Quốc hội khóa XVI đã thông qua 9 luật và 31 nghị quyết với tinh thần hành động quyết liệt để vừa tháo gỡ những điểm nghẽn, vừa đảm bảo tính căn cơ, lâu dài, kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
“Đặc biệt, việc kịp thời điều chỉnh linh hoạt các sắc thuế đã khẳng định sự chủ động, quyết liệt trong điều hành chính sách tài khóa và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn”, theo đánh giá của Chủ tịch Quốc hội khi phát biểu bế mạc Kỳ họp.
Ghi nhận của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư sau đó cho thấy, chính sách tài khóa được điều chỉnh linh hoạt đã thực sự là “điểm tựa” cho nhiều doanh nghiệp.
Doanh nhân Nguyễn Ngọc Sơn - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Sơn La nhận xét, trong năm 2025 và 2026, những điều chỉnh về thuế, đặc biệt là việc đưa thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu về 0 đã giúp doanh nghiệp giảm trực tiếp chi phí đầu vào, có thêm nguồn tiền để tái đầu tư.
“Đó là những chính sách rất kịp thời, hỗ trợ rất đắc lực cho doanh nghiệp” - ông Sơn nhấn mạnh.
Dù thế, doanh nghiệp và người dân vẫn kỳ vọng vào môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn. Quốc hội khóa XVI, ở Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, cùng với những quyết sách mang tính cấp bách (trong đó có giảm thuế cho cá nhân và doanh nghiệp có doanh thu dưới 10 tỷ đồng) đã đặt lên bàn nghị sự định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, tích hợp Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công…, những đạo luật tác động sâu sắc đến người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng Lê Minh Hưng, trong các phiên thảo luận tổ về các đạo luật này đã hơn một lần nhấn mạnh tinh thần đồng hành của Quốc hội với Chính phủ không chỉ để tháo gỡ những điểm nghẽn hiện hữu, mà còn kiến tạo thể chế cho giai đoạn phát triển mới.
Bên hành lang Quốc hội, đại biểu Nguyễn Đình Xuân - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh chia sẻ, để có độc lập, cha ông đã phải hy sinh bằng xương máu. Để có một Việt Nam hùng cường, thế hệ hôm nay cũng phải biết hy sinh - nhưng là những hy sinh của thời đại mình. Đó là dám từ bỏ tư duy cũ, lợi ích cục bộ và sự an toàn của cách làm quen thuộc; dám nhận phần khó về mình, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm và kiên trì theo đuổi những lợi ích lâu dài của đất nước.
“Có lẽ, đó chính là sự tiếp nối đẹp nhất giữa các thế hệ” - ông Xuân nói.
Vị đại biểu Tây Ninh cũng chia sẻ: "Cha ông đã trao cho chúng ta một đất nước độc lập. Chúng ta có trách nhiệm trao lại cho thế hệ mai sau một đất nước giàu mạnh hơn, tự tin hơn và có khả năng làm chủ tương lai của chính mình.
Và nếu có một điều tôi muốn nói trong ngày Quốc khánh hôm nay, thì đó là: độc lập đã cho chúng ta quyền lựa chọn con đường đi của mình; còn hùng cường đòi hỏi chúng ta phải đủ trí tuệ, bản lĩnh và quyết tâm để đi được đến cùng con đường ấy.
Đó không chỉ là khát vọng. Đó là trách nhiệm của thế hệ chúng ta".
