Chính sách thuế tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chính sách thuế đang được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, vừa giảm nghĩa vụ tài chính, vừa tạo thêm dòng tiền để doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Chính sách thuế đang được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, vừa giảm nghĩa vụ tài chính, vừa tạo thêm dòng tiền để doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đầu tư. Ảnh minh họa: Thuế tỉnh Quảng Trị
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, song cũng là nhóm dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường do nguồn lực tài chính và khả năng chống chịu còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, chính sách thuế đang được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, vừa giảm nghĩa vụ tài chính, vừa tạo thêm dòng tiền để doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, kết quả khảo sát của một số tổ chức như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Ban Nghiên cứu và Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho thấy các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có quy mô doanh thu siêu nhỏ đang là nhóm gặp nhiều khó khăn nhất hiện nay.
Đây là nhóm có khả năng chống chịu hạn chế trước những biến động của thị trường, trong khi lại chiếm số lượng lớn trong tổng số hộ, cá nhân và doanh nghiệp đang hoạt động. Vì vậy, việc thiết kế chính sách hỗ trợ đúng đối tượng trở thành yêu cầu quan trọng, thay vì giảm thuế trên diện rộng.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, áp lực không chỉ đến từ nghĩa vụ thuế mà còn từ chi phí đầu vào, sức mua, khả năng tiếp cận vốn và yêu cầu đầu tư cho công nghệ, chuyển đổi số. Khi dòng tiền bị thu hẹp, khả năng duy trì sản xuất, giữ lao động và dành nguồn lực cho đầu tư mới cũng bị ảnh hưởng.
Trong bối cảnh đó, chính sách thuế được kỳ vọng không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí trước mắt mà còn tạo thêm dư địa tài chính để phục hồi và phát triển.
Một trong những chính sách mới đáng chú ý là Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa được Quốc hội thông qua.
Theo Nghị quyết, cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm của năm 2026, 2027 không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.
Quy định không áp dụng đối với doanh nghiệp được hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết có hiệu lực nếu tổng doanh thu của các doanh nghiệp được chia, tách trong năm 2026 hoặc năm 2027 trên 10 tỷ đồng. Trường hợp doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội, số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm được tính trên số thuế phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi thuế.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, chính sách được thiết kế nhằm bảo đảm đúng, trúng đối tượng, tập trung vào các hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có quy mô doanh thu nhỏ, những đối tượng bị ảnh hưởng nhiều hơn và cần hỗ trợ nhiều hơn.
Việc lựa chọn nhóm đối tượng này cũng phù hợp với mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, phát triển các vùng kinh tế khó khăn và nâng cao năng suất lao động, trong đó nâng cao năng suất của nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là một yêu cầu quan trọng.
Theo Bộ trưởng, chính sách giảm thuế được tính toán phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước. Trong ngắn hạn, việc giảm thuế có thể làm giảm thu ngân sách, nhưng về dài hạn sẽ góp phần nuôi dưỡng nguồn thu, giúp doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và gia tăng thu nhập.
Chính sách giảm 30% thuế tiếp tục bổ sung vào hệ thống các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được triển khai trong thời gian qua.

Chính sách giảm thuế được tính toán phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước. Ảnh: Thùy Dương/BNEWS/TTXVN
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Ban Quản lý, phát triển nguồn thu (Cục Thuế), chính sách thuế đối với doanh nghiệp gần đây có nhiều thay đổi quan trọng theo hướng giảm gánh nặng tài chính, hỗ trợ dòng tiền, tăng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, đồng thời giảm chi phí tuân thủ thông qua cải cách quản lý thuế và chuyển đổi số.
Về giảm nghĩa vụ thuế và hỗ trợ dòng tiền, có thể kể đến việc tiếp tục giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ, từ 10% xuống 8% đến hết năm 2026; gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất trong năm 2026; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập theo quy định.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, những chính sách này không chỉ làm giảm nghĩa vụ thuế mà quan trọng hơn là tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp tích lũy vốn, tái đầu tư và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Khả năng tiếp cận chính sách của doanh nghiệp cũng được cải thiện đáng kể nhờ thuế điện tử, hóa đơn điện tử và các kênh hỗ trợ trực tuyến. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn cần được hỗ trợ nhiều hơn trong việc cập nhật và thực hiện chính sách.
Từ góc độ doanh nghiệp, tác động của chính sách thuế được nhìn thấy rõ nhất ở dòng tiền. Khi thời hạn nộp thuế được gia hạn hoặc nghĩa vụ thuế được giảm, một phần nguồn lực vốn lưu động được giữ lại, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất, kinh doanh.
Ông Phạm Nguyễn Tuấn Anh, Giám đốc Công ty cổ phần Vật liệu mới Viglue, cho rằng các chính sách gia hạn thời gian nộp thuế được triển khai kịp thời và phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
“Với dòng tiền có khả năng hỗ trợ, chúng tôi sẽ tăng cường đầu tư trong sản xuất, hỗ trợ tăng thu nhập để giữ chân người lao động”, ông Phạm Nguyễn Tuấn Anh cho biết.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoản tiền thuế được giảm hoặc thời gian nộp thuế được kéo dài có thể không tạo ra thay đổi quá lớn về quy mô vốn, nhưng lại có ý nghĩa đối với dòng tiền ngắn hạn. Đây là nguồn lực có thể được sử dụng để duy trì hoạt động, thanh toán chi phí, đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất hoặc giữ chân người lao động.
Bởi vậy, hiệu quả của chính sách thuế không chỉ nên nhìn ở số thu ngân sách giảm bao nhiêu mà còn ở khả năng nguồn lực được giữ lại trong doanh nghiệp và được chuyển thành đầu tư, việc làm và năng suất.
Tuy nhiên, giảm thuế chưa phải là điều kiện duy nhất để chính sách phát huy hiệu quả. Với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, một vấn đề khác là khả năng tiếp cận và thực hiện chính sách.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, qua thực tiễn triển khai và ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở mức thuế phải nộp mà còn ở khả năng tiếp cận và thực hiện chính sách.
Hệ thống chính sách hỗ trợ được quy định ở nhiều văn bản, với đối tượng, điều kiện, thời gian và cách xác định mức miễn, giảm, gia hạn khác nhau. Trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường không có bộ phận chuyên trách về thuế.
Đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, vấn đề quan tâm không chỉ là mức thuế mà còn là cách thức kê khai, nộp thuế và chi phí tuân thủ. Việc chuyển sang phương thức kê khai, cùng với yêu cầu sử dụng hóa đơn và nền tảng số, cần có thời gian thích ứng, đặc biệt đối với những cơ sở kinh doanh còn hạn chế về nhân lực và kỹ năng công nghệ.
Ông Phạm Nguyễn Tuấn Anh mong muốn các cơ quan chức năng có hướng dẫn cụ thể về điều kiện, tiêu chí được hưởng các chính sách hỗ trợ thuế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong các khâu thủ tục để việc tiếp cận chính sách thuận lợi, nhanh chóng.
Điều này cho thấy khoảng cách giữa một chính sách được ban hành và khả năng thụ hưởng chính sách trên thực tế vẫn là vấn đề cần được quan tâm, nhất là với nhóm doanh nghiệp có nguồn lực quản trị hạn chế.
Để các chính sách thuế nhanh chóng đi vào thực tế, ngành thuế đang tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, đồng thời tăng cường đối thoại, hướng dẫn và tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp.
Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, ngành thuế tập trung vào ba nhóm giải pháp. Trước hết là hướng dẫn chính sách theo từng nhóm đối tượng, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, có ví dụ cụ thể. Tiếp đó là đẩy mạnh số hóa, khai thác dữ liệu quản lý thuế để hỗ trợ doanh nghiệp. Cùng với đó là giảm tối đa thủ tục, không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin mà cơ quan quản lý đã có.
Các chuyên gia kinh tế đánh giá, cách tiếp cận này có ý nghĩa đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bởi mỗi thủ tục được rút gọn không chỉ giảm thời gian mà còn giảm chi phí nhân sự, chi phí kế toán và chi phí tuân thủ. Khi chính sách được thiết kế theo hướng đơn giản, dễ hiểu và được hỗ trợ bằng các nền tảng số, doanh nghiệp sẽ có khả năng tiếp cận nhanh hơn, giảm nguy cơ bỏ lỡ các ưu đãi mà mình thuộc diện được hưởng.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà cho biết, quan điểm của Cục Thuế là hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ là giảm số thuế phải nộp, mà quan trọng hơn là tạo ra nguồn lực tài chính thực chất và giảm chi phí tuân thủ. Khi doanh nghiệp có thêm nguồn lực để đầu tư, đổi mới và mở rộng sản xuất thì đó cũng chính là nền tảng để doanh nghiệp phát triển bền vững và đóng góp trở lại cho ngân sách nhà nước.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/chinh-sach-thue-tiep-suc-doanh-nghiep-nho-va-vua/434289.html
