Chuẩn hóa vùng chè nguyên liệu
Thái Nguyên là địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm từ cây chè. Khi thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm, việc tổ chức lại vùng chè nguyên liệu theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, gắn chặt với chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây cũng là nội dung quan trọng trong Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030.

Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm, việc tổ chức lại vùng chè nguyên liệu theo hướng đồng bộ, chuẩn hóa, gắn chặt với chế biến và tiêu thụ trở thành yêu cầu cấp thiết.
Tổ chức lại sản xuất
Cây chè giữ vị trí đặc biệt trong đời sống kinh tế nông thôn Thái Nguyên. Toàn tỉnh hiện có gần 24.000ha chè, sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt trên 280.000 tấn; với cùng nhiều vùng chè danh tiếng như: Tân Cương, La Bằng, Trại Cài, Khe Cốc, Bằng Phúc... Những con số này khẳng định chè là ngành hàng chủ lực, là lợi thế nổi trội của địa phương.
Tuy nhiên, lợi thế lớn chưa chuyển hóa đầy đủ thành sức cạnh tranh. Sản xuất nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, quy mô nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa nông dân, các hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; chất lượng nguyên liệu giữa các vùng, thậm chí trong cùng một vùng, còn chênh lệch. Trong khi đó, thị trường yêu cầu sản phẩm đồng đều, an toàn, quy trình minh bạch và truy xuất được nguồn gốc.
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, đánh giá: Diện tích chè những năm qua tăng trưởng tốt nhưng sản xuất nhỏ lẻ vẫn phổ biến, sử dụng nhiều lao động. Vì vậy, các giải pháp ưu tiên tập trung vào quy hoạch vùng nguyên liệu, thúc đẩy liên kết sản xuất, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và hỗ trợ cơ giới hóa trong sản xuất, chế biến.

Việc tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại, minh bạch, gắn chặt với thị trường sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên.
Cùng với việc mở rộng diện tích, vấn đề đặt ra là có bao nhiêu diện tích được tổ chức thành vùng nguyên liệu thực sự. Nếu nguyên liệu vẫn hình thành từ hàng nghìn hộ sản xuất rời rạc, mỗi nơi một cách làm, mỗi hộ một quy trình thì rất khó tạo lập mặt bằng chất lượng ổn định.
Khi chất lượng thiếu đồng đều, việc chế biến sâu, xây dựng thương hiệu bền vững, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị sẽ gặp nhiều trở ngại.
Nghị quyết số 11-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định rõ yêu cầu chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo tiêu chuẩn; từ lợi thế tự nhiên sang lợi thế cạnh tranh dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong tiến trình đó, vùng nguyên liệu có tổ chức giữ vai trò nền tảng.
Thiết lập tiêu chuẩn chung
Vùng nguyên liệu không đơn thuần là khu vực có diện tích chè lớn, mà phải được quy hoạch, quản lý và vận hành theo cùng một hệ tiêu chuẩn. Từ giống, vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, thu hái, sơ chế đến kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc đều cần được tổ chức thống nhất.

Vùng chè nguyên liệu của các HTX còn là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TU, tỉnh sẽ rà soát hiện trạng đất đai, lợi thế của từng địa phương để xác lập, quy hoạch các vùng sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cho chế biến; đồng thời số hóa các vùng sản xuất theo quy hoạch để quản lý và áp dụng đồng bộ quy trình. Khi vùng nguyên liệu được xác lập rõ ràng, được quản lý bằng tiêu chuẩn và dữ liệu, chất lượng sản phẩm sẽ ổn định hơn.
Song hành với quy hoạch là tổ chức lại sản xuất. Các hộ trồng chè cần tham gia các hình thức liên kết như: HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX và chuỗi liên kết với doanh nghiệp. HTX giữ vai trò đầu mối tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát quy trình, tập hợp sản lượng và kết nối thị trường. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, đặt ra yêu cầu chất lượng và gắn sản xuất với nhu cầu chế biến, tiêu thụ.
Ông Tô Hà Phương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND xã La Bằng, cho biết: Là vùng chè nổi tiếng của tỉnh, địa phương chú trọng quản lý, quy hoạch vùng sản xuất chè tập trung, khuyến khích chuyển đổi diện tích đất nông, lâm nghiệp kém hiệu quả sang trồng chè.

Ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) để phun tưới cho vùng chè nguyên liệu của HTX chè Hảo Đạt (xã Tân Cương).
Thực tế từ các HTX chè cũng cho thấy nhu cầu cấp thiết của việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Tại HTX chè Hảo Đạt, đơn vị hiện có gần 70ha vùng nguyên liệu ở xã Tân Cương, song nhiều diện tích vẫn nhỏ lẻ, xen kẽ giữa đất ở và đất nông nghiệp.
Theo bà Đào Thanh Hảo, Giám đốc HTX, đơn vị đã đề xuất xây dựng dự án vùng sản xuất tập trung quy mô 20-30ha. Nếu triển khai, đây sẽ là điều kiện để áp dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật, giảm sức lao động, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Vùng nguyên liệu chỉ phát huy hiệu quả khi trở thành vùng sản xuất có tổ chức, có liên kết, có tiêu chuẩn và có khả năng đáp ứng ổn định yêu cầu của chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Hoàn thiện chuỗi giá trị trà
Vùng nguyên liệu được tổ chức tốt sẽ tạo ra đầu vào đồng đều, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ, mở rộng chế biến sâu và phát triển các dòng sản phẩm giá trị cao. Đây là mối quan hệ có ý nghĩa quyết định đối với tương lai ngành chè Thái Nguyên.

Các hộ trồng chè cần chuyển từ sản xuất đơn lẻ sang tham gia các hình thức liên kết như HTX, tổ hợp tác, liên hiệp HTX và chuỗi liên kết với doanh nghiệp.
Nghị quyết số 11-NQ/TU đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn tỉnh có 70% diện tích chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng; 100% doanh nghiệp, HTX có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong canh tác, quản lý chuỗi và truy xuất nguồn gốc; 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên các nền tảng thương mại điện tử. Đây là những thước đo cụ thể của quá trình chuẩn hóa và hiện đại hóa vùng nguyên liệu.
Khi vùng nguyên liệu được chuẩn hóa, doanh nghiệp và HTX có điều kiện đầu tư nhà máy chế biến tại các vùng chè tập trung, phát triển sản phẩm chế biến sâu, mở rộng phân khúc giá trị cao.
Quá trình sản xuất được quản lý theo tiêu chuẩn thống nhất, vai trò điều phối của các tổ chức được nâng lên, người trồng chè gắn bó hơn với quy trình an toàn, với hợp đồng liên kết và thị trường dài hạn. Khi có mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu số, sản phẩm chè đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.

Thái Nguyên đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 24.500ha chè, sản lượng búp tươi đạt trên 300 nghìn tấn, giá trị thu được từ cây chè đạt khoảng 25 nghìn tỷ đồng.
Bà Uông Thị Lan, Giám đốc HTX chè an toàn Nguyên Việt, cho rằng: Khi không gian trồng chè được phát triển thành vùng sản xuất có quy hoạch, quản lý và vận hành theo tiêu chuẩn chung, các HTX và hộ trồng chè sẽ có điều kiện đổi mới quy trình sản xuất, kinh doanh.
Còn theo ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè Thái Nguyên, việc tổ chức tốt vùng nguyên liệu sẽ thúc đẩy tái cơ cấu, nâng cao chuỗi giá trị trà và tạo thêm động lực để sản phẩm chè của tỉnh mở rộng thị trường.
Tổ chức lại vùng nguyên liệu là điểm khởi đầu của toàn bộ chuỗi giá trị trà Thái Nguyên. Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch hợp lý, tổ chức chặt chẽ, liên kết hiệu quả giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp, áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, được số hóa và truy xuất minh bạch, ngành chè của tỉnh sẽ tiếp tục củng cố vị thế, đồng thời mở ra dư địa lớn cho tăng trưởng giá trị và phát triển bền vững.
Mục tiêu phát triển ngành chè Thái Nguyên đến năm 2030:
- Diện tích chè toàn tỉnh: Khoảng 24.500ha; sản lượng chè búp tươi: Trên 300.000 tấn.
- 70% diện tích chè đạt chuẩn GAP, hữu cơ; 70% diện tích được cấp mã số vùng trồng.
- 100% các doanh nghiệp, HTX chè có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số.
- 100% sản phẩm trà và sản phẩm từ chè được đưa lên nền tảng thương mại điện tử.
- Ít nhất 250 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3-5 sao, trong đó có ít nhất 6 sản phẩm đạt OCOP 5 sao.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/kinh-te/202603/chuan-hoa-vung-che-nguyen-lieu-6d90b56/












