Chuyển đổi kép 'xanh, số': Con đường phát triển bền vững
LTS: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những đòi hỏi khắt khe của thị trường toàn cầu đang là thử thách đối với vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Nhưng cũng từ áp lực ấy, Cà Mau tìm ra con đường bứt phá: chuyển đổi kép "xanh - số". "Xanh" để giữ gìn môi trường bền vững, "số" để nâng cao giá trị. Hướng đi ấy hoà vào chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, chuyển đổi số theo tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng quan điểm “thuận thiên” của Nghị quyết 120/NQ-CP đối với đồng bằng sông Cửu Long.
Bài 1: Hợp lực tăng trưởng từ hai cuộc chuyển đổi
Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, cuộc chuyển đổi lớn đang diễn ra trên những vuông tôm, ruộng lúa, cánh rừng ngập mặn và cả trên nền tảng dữ liệu. Từ phương thức sản xuất dựa vào tự nhiên cùng kinh nghiệm, Cà Mau đang từng bước chuyển sang sản xuất xanh, ứng dụng công nghệ và quản trị bằng dữ liệu. Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không còn là 2 dòng chảy song song, mà đang hoà nhịp để tạo nên động lực tăng trưởng mới.
Nuôi tôm sạch trên nền tảng dữ liệu
20 năm gắn bó với nghề nuôi tôm, ông Bùi Chí Thượng (ấp Rạch Mũi, Xã Lương Thế Trân) vẫn giữ thói quen quan sát kỹ lưỡng màu nước, theo dõi từng chuyển động của đàn tôm và nhận định bằng kinh nghiệm. Công việc ấy giờ còn có thêm sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông minh: cảm biến ghi nhận nhiệt độ, độ mặn, oxy hoà tan; camera theo dõi hoạt động của tôm; máy cho ăn tự động điều chỉnh khẩu phần; nhật ký sản xuất được cập nhật trên nền tảng số. Mỗi biến động của ao nuôi đều được chuyển hoá thành dữ liệu, lưu trữ, phân tích và trở thành căn cứ để ra quyết định.

Ông Bùi Chí Thượng, ấp Rạch Mũi, Xã Lương Thế Trân
(
bìa trái) chia sẻ kinh nghiệm mô hình nuôi tôm tuần hoàn ít thay nước RAS-IMTA cho người dân trong tỉnh.
Nhờ thay đổi cách quản lý, kiểm soát môi trường, tiết giảm nước, tối ưu thức ăn và ứng dụng dữ liệu vào sản xuất, ông Thượng vượt qua giai đoạn khó khăn sau nhiều năm thất bại. 5 năm trở lại đây, với 10 ao nuôi có tổng diện tích 7 ha, mỗi năm ông thu về từ 100-150 tấn tôm thương phẩm.
Ông Thượng chia sẻ: “Kinh nghiệm vẫn là vốn quý nhất của người nuôi tôm, nhưng nay kinh nghiệm ấy đã có thêm “trợ thủ”: cảm biến phát hiện biến động mà mắt thường khó nhận ra; dữ liệu lưu lại từng mùa vụ và hệ thống cảnh báo giúp chủ động trước rủi ro”.
Mô hình nuôi tôm có sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông minh của ông Bùi Chí Thượng, ấp Rạch Mũi, Xã Lương Thế Trân.
TS Thái Trường Giang, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, nhận định: Chuyển đổi xanh tại Cà Mau không còn là câu chuyện tương lai mà trở thành xu hướng hiện tại. Chính những cánh rừng ngập mặn, biển, thuỷ sản và nền tảng công nghiệp khí - điện - đạm đang được nhìn nhận như những nguồn lực để hình thành mô hình phát triển mới: tăng trưởng nhưng tiết kiệm tài nguyên, sản xuất nhưng giảm áp lực lên môi trường, khai thác nhưng phải tính đến khả năng tái tạo.
Trong bức tranh ấy, con tôm giữ vị trí đặc biệt. Ông Nguyễn Công Quốc, Phó Trưởng phòng Quản lý nuôi trồng thuỷ sản, Chi cục Thuỷ sản Cà Mau, khẳng định: Thuỷ sản, nhất là ngành tôm, tiếp tục là trụ cột của kinh tế nông nghiệp Cà Mau. Khoa học - công nghệ đang đi sâu vào chuỗi giá trị, từ hệ thống điều khiển, camera, nhật ký điện tử, IoT tại cơ sở nuôi đến thiết bị giám sát hành trình trên hơn 1.900 tàu cá. Từ mặt ao đến cánh rừng, vùng biển, dữ liệu đang trở thành “hạ tầng mềm” của quản trị tài nguyên.
Cà Mau hiện có hơn 11.150 ha nuôi tôm siêu thâm canh. Các kỹ thuật, công nghệ như: ao lót bạt, nhà màng, sục khí, cho ăn tự động, quan trắc IoT, Biofloc... ngày càng phổ biến. Ðáng chú ý, mô hình nuôi tuần hoàn, ít thay nước (RAS-IMTA) sau thời gian thí điểm đạt năng suất trung bình khoảng 35 tấn/ha/vụ, tỷ lệ tôm sống 70-90%, hệ số chuyển đổi thức ăn 1,2-1,3, hiện đang được nhân rộng trong toàn tỉnh với diện tích 1.500 ha giai đoạn 2025-2030, trong đó Công ty TNHH De Heus khoảng 1.000 ha và Công ty Cổ phần Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú 500 ha.
Ông Quách Kha Ly, Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH De Heus, cho rằng, RAS-IMTA không chỉ giúp tăng năng suất mà còn giúp người nuôi kiểm soát tốt môi trường nước, tiết kiệm nước, bảo đảm an toàn cho tôm và quản lý chặt từng khâu. Năng suất cho biết kết quả nuôi, còn dữ liệu cho biết vì sao đạt được kết quả đó, từ đó duy trì cách nuôi để đạt hiệu quả bền vững.

Mô hình nuôi tôm tuần hoàn, ít thay nước (RAS-IMTA) ở Xã Lương Thế Trân.
Lợi thế xanh được số hoá
Nếu chỉ chạy theo năng suất, Cà Mau có thể chưa khai thác hết lợi thế của mình. Theo TS Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Cà Mau đang sở hữu “tài sản” đặc biệt: hệ sinh thái rừng ngập mặn và những mô hình sản xuất thuận tự nhiên như tôm - rừng (gần 90.000 ha) và tôm - lúa (gần 93.000 ha), tạo nên lợi thế hiếm có. Nhưng giá trị tôm - rừng không chỉ nằm ở sản lượng. Rừng bảo vệ bờ biển, duy trì đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ carbon. Trong kinh tế xanh, những giá trị ấy có thể được lượng hoá để trở thành một phần giá trị kinh tế.
Dù vậy, TS Trần Minh Hải lưu ý, không thể gọi đó là mô hình là “xanh” rồi mặc nhiên hình thành tín chỉ carbon. Muốn bước vào thị trường carbon, phải đo được, ghi nhận và thẩm định được lượng giảm phát thải hoặc carbon hấp thụ. Hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), cùng dữ liệu về vùng nuôi và hồ sơ sản xuất là nền tảng để xác thực giá trị môi trường. Ðó cũng chính là nơi “xanh” gặp “số”. Nhật ký điện tử lưu lại quá trình sản xuất, mã QR và truy xuất nguồn gốc giúp kiểm chứng sản phẩm, dữ liệu môi trường cho phép đánh giá điều kiện nuôi, tính dấu chân carbon giúp chứng minh mức phát thải. Khi ấy, rừng ngập mặn có thể trở thành một phần trong giá trị thương mại của con tôm.
Cà Mau hiện có 48 chuỗi liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - hộ dân, với diện tích khoảng 38.169 ha, gần 8 ngàn hộ tham gia; nhiều vùng nguyên liệu đạt chuẩn Naturland, EU Organic, ASC, BAP... Ðây là những tín hiệu rất tích cực, bởi lẽ, “tấm vé” bước vào phân khúc thị trường cao cấp trong tương lai không chỉ nằm ở cuộc đua về giá mà còn ở khả năng minh chứng chất lượng, xuất xứ và trách nhiệm với môi trường.
Tôm Cà Mau thời 4.0 không đơn thuần là đưa máy móc vào ao nuôi, mà là tổ chức lại chuỗi giá trị bằng dữ liệu, từ con giống, vùng nuôi, sản xuất, thu hoạch, chế biến đến thị trường. Một con tôm có thể mang theo cả “hồ sơ số”.
Ông Phạm Văn Mười, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường
Không chỉ con tôm, xu hướng “xanh - số” cũng đang lan toả sang con cua và thương mại. Ðiều này được minh chứng qua những con số ấn tượng: mô hình liên kết sản xuất cua trên 2.000 ha với doanh nghiệp đã ứng dụng phần mềm quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc; hơn 6.600 hộ có tài khoản bán hàng trên sàn thương mại điện tử; trên 320 ngàn hộ tiếp cận, sử dụng tài khoản thanh toán điện tử; hơn 635 sản phẩm được hỗ trợ đưa lên không gian mạng...

Cà Mau thực hiện mô hình liên kết sản xuất cua trên 2.000 ha với doanh nghiệp, ứng dụng phần mềm quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc.
Bình minh trên đầm tôm của ông Thượng vẫn bắt đầu bằng ánh mắt người nông dân. Chỉ khác, hôm nay bên cạnh đó còn có những cảm biến âm thầm đo nước, camera dõi theo đàn tôm và những dòng dữ liệu đang được lưu lại. Từ đầm tôm ấy có thể thấy, Cà Mau đang hướng đến cách phát triển mới: giữ lại giá trị của tự nhiên, dùng công nghệ nâng cao chất lượng để chinh phục những thị trường khắt khe đòi hỏi sự phát triển phải gắn với bền vững.
Nguồn Cà Mau: https://baocamau.vn/chuyen-doi-kep-xanh-so-con-duong-phat-trien-ben-vung-a132367.html


