Chuyển đổi phương tiện điện tăng nhưng không đồng đều giữa các nhóm
Trong các lĩnh vực giao thông, đường bộ và giao thông đô thị ghi nhận mức độ chuyển đổi phương tiện điện rõ nét nhất, đặc biệt tại các đô thị lớn...

Số ô tô con chiếm 97,3% tổng số phương tiện điện; xe máy điện tăng trưởng khoảng 28% mỗi năm. Ảnh: Như Hoàn
Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải (Quyết định 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022), tại hội nghị mới đây về vấn đề này, Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng cho biết đến nay, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến chuyển đổi xanh từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Các quy định về đường bộ, trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng và bảo vệ môi trường đã lồng ghép yêu cầu sử dụng năng lượng sạch, phát triển phương tiện phát thải thấp, kiểm soát khí thải và xây dựng hạ tầng phục vụ phương tiện điện.
Báo cáo tổng kết ghi nhận 5 luật chuyên ngành và môi trường, 9 nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị được ban hành, góp phần cụ thể hóa việc thực hiện chương trình. Cùng với đó là 28 tiêu chuẩn Việt Nam liên quan đến hệ sinh thái xe điện và 2 quy chuẩn kỹ thuật trọng tâm về hạ tầng sạc.
Các quy định về ưu đãi đầu tư, thuế, lệ phí trước bạ, giá điện phục vụ sạc xe điện và thị trường carbon cũng góp phần tạo cơ sở huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh.
Ở cấp địa phương, chính sách bắt đầu chuyển từ định hướng sang triển khai cụ thể. Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã xây dựng những công cụ quản lý vùng phát thải thấp, hỗ trợ chuyển đổi phương tiện sạch, phát triển giao thông công cộng và từng bước kiểm soát phương tiện cá nhân tại khu vực trung tâm. Một số chính sách tập trung hỗ trợ nhóm người dân, người lao động sử dụng phương tiện phục vụ sinh kế chuyển đổi sang phương tiện sạch.
ĐƯỜNG BỘ, GIAO THÔNG ĐÔ THỊ GHI NHẬN CHUYỂN BIẾN RÕ NÉT
Qua 4 năm triển khai, lĩnh vực đường bộ là lĩnh vực có sự chuyển đổi nhanh và rõ nét nhất, được đo lường cụ thể bằng số lượng phương tiện chuyển đổi, hạ tầng trạm sạc được lắp đặt.
Theo số liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam, tính đến tháng 06/2026, tổng số phương tiện trên toàn quốc là hơn 6,3 triệu phương tiện trong đó số lượng phương tiện điện khoảng 400 nghìn phương tiện (chiếm khoảng 6,1% tổng số lượng xe cơ giới).
Cụ thể, số ô tô con chiếm 97,3% tổng số phương tiện điện; xe máy điện tăng trưởng khoảng 28% mỗi năm.
Đối với các nhóm phương tiện vận tải khác, cả nước có 3.893 ô tô tải điện, 47 đầu kéo điện, 2.502 ô tô khách điện, chủ yếu là xe buýt đô thị và 8 ô tô chuyên dùng điện.

Số lượng xe cơ giới đến 15/06/2026
Hạ tầng sạc cũng từng bước được mở rộng. Đến nay, cả nước có 15.024 trạm/cổng sạc, gồm 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, hiện diện tại 34/34 tỉnh, thành phố. Trên mạng lưới cao tốc, quốc lộ, hạ tầng sạc đã có mặt tại 125/215 tuyến.
Tuy nhiên, tại các trạm dừng nghỉ, số điểm sạc đã vận hành còn hạn chế. Đến tháng 5/2026, mới có 4/21 trạm dừng nghỉ vận hành hệ thống sạc, trong khi 8 trạm đang lắp đặt.
Hạ tầng phục vụ xe buýt điện cũng đang được phát triển. Hà Nội có 13 depot phục vụ 717 xe buýt điện và 41 tuyến; TP.Hồ Chí Minh có 5 depot với 56 trụ sạc siêu nhanh.
Trong lĩnh vực giao thông đô thị, cả nước có 1.946 xe buýt điện trên tổng số 8.428 xe buýt, đạt tỷ lệ 23,1%. Trong đó, Hà Nội và TP.HCM có 1.849 xe buýt điện trên tổng số 4.642 xe; các thành phố trực thuộc Trung ương khác có 37 xe trên 995 xe; 27 tỉnh còn lại có 60 xe trên 2.791 xe.

Một số kết quả chuyển đổi phương tiện điện tại các tỉnh/thành phố.
Đối với taxi, chuyển đổi sang xe điện đạt kết quả nổi bật hơn. Theo số liệu tổng hợp, tổng số taxi đang hoạt động là 86.274 xe, trong đó taxi sử dụng xăng/diesel là 25.528 xe, taxi điện là 61.171 xe, đạt tỷ lệ 70,9%. Nhóm thành phố loại đặc biệt có tỷ lệ taxi điện khoảng 74%; nhóm thành phố trực thuộc Trung ương đạt 84,2%; nhóm các tỉnh khác đạt 66,1%. Kết quả này phản ánh động lực thị trường mạnh, hiệu quả kinh tế trong vận hành xe điện và sự tham gia của các doanh nghiệp vận tải lớn.
Đối với phương tiện cá nhân, ô tô điện và xe máy điện tăng nhanh nhưng tỷ lệ so với tổng số phương tiện vẫn thấp. Tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, xe máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn. Đây là thách thức lớn vì xe máy liên quan trực tiếp đến sinh kế, thói quen đi lại, khả năng chi trả và tiếp cận giao thông của người dân.
Với đường thủy nội địa, các hoạt động bước đầu tập trung vào khuyến khích đóng mới, nhập khẩu, chuyển đổi phương tiện sang điện và năng lượng xanh; xây dựng, thí điểm cảng xanh và tuyến vận tải xanh.
Trong lĩnh vực hàng hải, các công cụ nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm phát thải đã được áp dụng, gồm EEDI đối với tàu đóng mới, EEXI đối với tàu đang khai thác và CII về cường độ carbon.
Theo đó, có 11 cảng xanh đã được công bố, 13 cảng được đánh giá đạt tiêu chí xanh nhưng chưa công bố. Khoảng 10.000 đèn báo hiệu sử dụng năng lượng mặt trời, tích hợp GPS, đã được triển khai.
Đối với hàng không, trọng tâm hiện nay là nâng cao hiệu quả khai thác, giảm tiêu hao nhiên liệu và phát thải. Việc sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) từng bước được triển khai. Lượng SAF pha trộn thực tế tăng từ 37.516 tấn năm 2024 lên 72.358 tấn năm 2025.
Việt Nam đã sử dụng SAF cho chuyến bay quốc tế đầu tiên vào năm 2024 trên chặng Singapore - Hà Nội. Năm 2025, Vietnam Airlines sử dụng SAF trên 6 chuyến bay nội địa xuất phát từ Đà Nẵng đi Hà Nội và TP.HCM.
MỨC ĐỘ CHUYỂN ĐỔI CHƯA ĐỒNG ĐỀU GIỮA CÁC PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI
Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng chỉ ra nhiều hạn chế trong quá trình triển khai Quyết định 876. Theo đó, mạng lưới trạm sạc, đổi pin và hạ tầng cung cấp nhiên liệu xanh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Việc phân bố hạ tầng còn chưa hợp lý, đặc biệt thiếu các công trình có công suất lớn phục vụ xe tải, xe khách, depot xe buýt, trạm dừng nghỉ, cảng và sân bay.
Việc phát triển phương tiện điện chưa được kết nối đồng bộ với quy hoạch nguồn điện, lưới điện, vị trí trạm sạc và quỹ đất. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, trạm nạp hydrogen, tái chế pin và cấp điện bờ cần tiếp tục được hoàn thiện.
Chính sách hỗ trợ chưa hình thành được gói giải pháp đồng bộ giữa phương tiện, hạ tầng và năng lượng. Chi phí chuyển đổi còn cao, khả năng tiếp cận vốn ưu đãi của doanh nghiệp hạn chế. Cơ chế đầu tư hạ tầng, đấu nối điện, giá dịch vụ và phát triển các loại nhiên liệu xanh như SAF, hydrogen, nhiên liệu hàng hải xanh vẫn cần được nghiên cứu, hoàn thiện.

Xe điện đã dần xuất hiện nhiều trên các tuyến phố ở những đô thị lớn như Hà Nội. Ảnh: Như Hoàn
Mức độ chuyển đổi cũng chưa đồng đều giữa các phương thức vận tải. Taxi điện phát triển nhanh, xe buýt điện chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, trong khi xe tải, xe khách đường dài và phương tiện chuyên dụng chuyển đổi chậm. Điều này cho thấy xe tải, xe khách đường dài và phương tiện chuyên dụng vẫn còn nhiều dư địa chuyển đổi.
Đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không phần lớn vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thí điểm và chuẩn bị điều kiện.
Ngoài ra, tổ chức vận tải còn phụ thuộc nhiều vào đường bộ; kết nối logistics và vận tải đa phương thức chưa phát huy đầy đủ tiềm năng.
Dữ liệu về phương tiện, nhiên liệu, tiêu thụ năng lượng, hạ tầng sạc và phát thải còn phân tán, chưa được chuẩn hóa, chia sẻ và liên thông. Năng lực kiểm kê, đo đạc, báo cáo và thẩm tra phát thải cần được tăng cường để theo dõi, đánh giá hiệu quả chính sách.
Nêu những thách thức thực tiễn trong quá trình triển khai, báo cáo chỉ rõ nhu cầu điện bổ sung cho giao thông điện đến năm 2030 dự kiến khoảng 3 - 4 tỷ kWh mỗi năm, tương đương 1 - 1,5% sản lượng điện toàn hệ thống.
Tuy nhiên, theo đại diện Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm tổng nguồn điện mà còn phải cung cấp đúng địa điểm, đúng thời điểm, đáp ứng phụ tải cực đại; đồng thời đầu tư nâng cấp trạm biến áp, đường dây và điểm đấu nối. Tại các đầu mối vận tải lớn như bến xe, depot, cảng cạn và trạm dừng nghỉ, nhu cầu sạc công suất cao có thể làm gia tăng áp lực phụ tải.
Vì vậy, quá trình triển khai cần gắn với các giải pháp sạc thông minh, quản lý phụ tải, tích hợp năng lượng tái tạo và lưu trữ điện; đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp vận tải, chính quyền, ngành điện và nhà phát triển trạm sạc.
Để tiến tới mục tiêu giao thông vận tải phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đại diện Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng cho rằng giai đoạn tới cần cụ thể hóa lộ trình theo từng nhóm phương tiện, cự ly, tải trọng và địa bàn; đồng bộ đầu tư hạ tầng năng lượng; hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực; nâng cao chất lượng dữ liệu, nhân lực và năng lực theo dõi, đánh giá phát thải. Việc hoàn thiện chính sách chuyển đổi năng lượng xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn đặt ra bài toán về năng lực công nghệ, hạ tầng và sức cạnh tranh của ngành giao thông vận tải trong dài hạn.


