Chuyển đổi số để gần dân, giúp Bộ đội Biên phòng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

Lai Châu là địa bàn biên giới rộng, địa hình rừng núi phức tạp, dân cư phân tán; điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân không đồng đều, một số khu vực hạ tầng viễn thông, Internet còn hạn chế. Từ thực tiễn đó, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã triển khai mô hình “Thầy giáo quân hàm xanh - Đẩy nhanh chuyển đổi số” và mô hình “Hòm thư điện tử tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm ẩn danh” nhằm đưa tri thức đến với đồng bào, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, góp phần xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Phóng viên Báo Biên phòng đã có cuộc trao đổi với Đại tá Nguyễn Văn Hưng, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu về những cách làm và định hướng trong thời gian tới.

Đại tá Nguyễn Văn Hưng, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu trao điện thoại thông minh kèm thẻ sim tặng đồng bào có hoàn cảnh khó khăn tại bản Sì Choang, xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu. Ảnh: Đức Duẩn

Đại tá Nguyễn Văn Hưng, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu trao điện thoại thông minh kèm thẻ sim tặng đồng bào có hoàn cảnh khó khăn tại bản Sì Choang, xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu. Ảnh: Đức Duẩn

- Thưa đồng chí, trong điều kiện khu vực biên giới còn nhiều khó khăn, vì sao Đảng ủy, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt?

- Khu vực biên giới Lai Châu có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh. Sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, địa bàn biên giới của tỉnh có 11 xã, 172 bản, với 26.111 hộ/124.520 nhân khẩu, gồm 20 dân tộc. Địa hình chủ yếu là rừng núi, giao thông đi lại khó khăn. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn, trình độ nhận thức không đồng đều. Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số còn hạn chế, một số điểm dân cư sóng điện thoại, Internet yếu hoặc chưa có; còn nhiều hộ dân chưa có điện thoại thông minh.

Nhưng chính những khó khăn đó càng đặt ra yêu cầu phải đưa chuyển đổi số đến gần người dân hơn. Chúng tôi nhận thức rằng, nếu chuyển đổi số chỉ dừng ở cơ quan, đơn vị mà chưa đến được với người dân ở những bản xa, trên lán nương thì hiệu quả chưa thể trọn vẹn. Đưa công nghệ số đến với đồng bào vùng biên không chỉ giúp người dân tiếp cận thông tin, pháp luật, tri thức mới mà còn góp phần thay đổi tư duy, cách làm, nâng cao dân trí, hướng tới cuộc sống văn minh, hiện đại hơn. Đồng thời, giúp bà con chủ động nhận diện, phòng tránh thông tin xấu độc, những thủ đoạn lừa đảo trên không gian mạng.

Vì vậy, Đảng ủy, Ban Chỉ huy xác định chuyển đổi số phải bắt đầu từ cơ sở, lấy người dân làm trung tâm và gắn trực tiếp với nhiệm vụ Biên phòng. Công nghệ phải giúp người dân thuận lợi hơn trong cuộc sống, giúp lực lượng nắm tình hình tốt hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và góp phần xây dựng biên giới vững mạnh.

- Từ quan điểm đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã có cách làm như thế nào để chuyển đổi số thực sự đến được với từng bản, từng hộ dân?

- Chúng tôi xác định cán bộ, chiến sĩ phải là những người trực tiếp đưa tri thức số đến với nhân dân. Từ đó, mô hình “Thầy giáo quân hàm xanh - Đẩy nhanh chuyển đổi số” được triển khai với phương châm “Đi từng bản, đến từng lán nương, hướng dẫn từng người dân”. Các cơ quan, đơn vị thành lập các tổ giáo viên, “Tổ tư vấn kỹ năng số”, “Tổ hỗ trợ số” với 150 cán bộ, chiến sĩ tham gia.

Điều chúng tôi coi trọng là hướng dẫn phải phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, không nặng về lý thuyết. Cán bộ, chiến sĩ hướng dẫn bà con sử dụng điện thoại thông minh, Internet an toàn, VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, tra cứu thông tin hành chính; đồng thời bước đầu hướng dẫn quảng bá sản phẩm, giới thiệu du lịch và đưa một số sản phẩm đặc trưng của địa phương lên môi trường số. Một cách làm hiệu quả là gắn chuyển đổi số với những công việc cán bộ, chiến sĩ đang thực hiện ở cơ sở. Trong quá trình tham gia xóa nhà tạm, nhà dột nát, ban ngày cán bộ, chiến sĩ cùng nhân dân làm nhà, buổi tối lại xuống bản tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng số. Như vậy, chuyển đổi số không phải một hoạt động tách rời mà được lồng ghép vào công tác dân vận, vào từng công việc cụ thể.

Đến nay, các đơn vị đã tổ chức 48 lớp, với 2.354 người tham gia tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn về kỹ năng số. Đồng thời, Bộ đội Biên phòng tỉnh tích cực huy động nguồn lực hỗ trợ thiết bị cho nhân dân. Tổng số điện thoại thông minh được trao tặng cho các hộ dân khu vực biên giới là 1.616 chiếc.

Từ tháng 4/2026, thực hiện mô hình “Bộ đội Biên phòng - đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới”, các đơn vị đã huy động 121 cán bộ, thành lập 31 tổ công tác, tổ chức 286 buổi tuyên truyền/18.250 lượt người dân về sử dụng điện thoại thông minh và internet an toàn; hướng dẫn cài đặt, khai thác các nền tảng số phục vụ dịch vụ công, trực tuyến, ứng dụng VNeID cho hơn 24.500 lượt người. Qua đó, từng bước hình thành kỹ năng và thói quen sử dụng công nghệ trong đời sống của đồng bào.

Thông qua các tổ hỗ trợ số, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đưa kiến thức, kỹ năng số đến gần hơn với người dân vùng biên. Ảnh: Đức Duẩn

Thông qua các tổ hỗ trợ số, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đưa kiến thức, kỹ năng số đến gần hơn với người dân vùng biên. Ảnh: Đức Duẩn

- Hai mô hình của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng lựa chọn triển khai trong toàn lực lượng. Từ thực tiễn triển khai, đồng chí đánh giá như thế nào về giá trị của chuyển đổi số đối với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới?

- Hai mô hình “Thầy giáo quân hàm xanh - Đẩy nhanh chuyển đổi số” và “Hòm thư điện tử tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm ẩn danh” được Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng lựa chọn triển khai trong toàn lực lượng với tên gọi “Bộ đội Biên phòng - đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới” là sự ghi nhận đối với những cách làm xuất phát từ thực tiễn cơ sở. Quan trọng hơn, qua đó cho thấy công nghệ số có thể tạo thêm những phương thức mới để thực hiện nhiệm vụ Biên phòng.

Điển hình là mô hình “Hòm thư điện tử tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm ẩn danh”. Với địa bàn rộng, đi lại khó khăn, người dân có thể không thuận tiện khi trực tiếp đến đồn, trạm Biên phòng để phản ánh. Việc sử dụng mã QR, đường link và hòm thư điện tử tạo thêm một kênh để người dân cung cấp thông tin nhanh chóng, thuận tiện, đồng thời bảo đảm tính bảo mật, ẩn danh. Hiệu quả của mô hình đã được chứng minh bằng thực tế. Từ các nguồn tin do người dân cung cấp, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã xác lập, chủ trì đấu tranh thành công 5 chuyên án; bắt, khởi tố, điều tra theo thẩm quyền 26 vụ/31 đối tượng phạm tội về ma túy.

Điều đáng nói là từ một công cụ số đơn giản, người dân có thêm phương thức thuận tiện để tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Nhân dân không chỉ là đối tượng được tuyên truyền, vận động mà trực tiếp trở thành chủ thể tham gia bảo vệ địa bàn, bảo vệ biên giới.

Chúng tôi xác định, công nghệ không thay thế con người mà làm cho sức mạnh của con người được phát huy tốt hơn. Khi người dân có thêm một kênh phản ánh tình hình, khi cán bộ Biên phòng có thêm phương thức nắm tin từ cơ sở thì thế trận biên phòng toàn dân cũng được củng cố từ những việc rất cụ thể.

- Thưa đồng chí, thời gian tới, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu sẽ tiếp tục phát huy các mô hình này như thế nào để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực xây dựng khu vực biên giới?

- Chúng tôi xác định, chuyển đổi số phải tạo ra những giá trị cụ thể, lâu dài, vừa phục vụ hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Thời gian tới, chúng tôi tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, nâng cao kỹ năng số cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; để mỗi cán bộ Bộ đội Biên phòng thực sự là một “hạt nhân số” ở cơ sở.

Hai là, duy trì, hoàn thiện và nhân rộng những mô hình hiệu quả, nhất là “Thầy giáo quân hàm xanh - Đẩy nhanh chuyển đổi số”, “Hòm thư điện tử tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm ẩn danh”, qua đó tạo thêm những kênh để gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình địa bàn.

Ba là, gắn chuyển đổi số với phát triển kinh tế - xã hội, hướng dẫn nhân dân ứng dụng nền tảng số, thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

Bốn là, phối hợp tháo gỡ những “điểm nghẽn” về hạ tầng, thiết bị và kỹ năng số, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, để không người dân nào bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số.

Chúng tôi xác định, giá trị lớn nhất của chuyển đổi số ở biên giới không nằm ở số lượng thiết bị hay ứng dụng được triển khai, mà ở sự thay đổi trong nhận thức và hành động của người dân. Chúng tôi mong muốn chuyển đổi số thực sự trở thành cầu nối giữa Bộ đội Biên phòng với nhân dân, giúp người dân tiếp cận tri thức, dịch vụ, thị trường và các kênh phản ánh thuận tiện hơn; đồng thời tạo thêm phương thức để Bộ đội Biên phòng nắm chắc địa bàn, phát huy sức mạnh nhân dân trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Qua đó, góp phần xây dựng khu vực biên giới Lai Châu vững mạnh, bình yên, phát triển, xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc.

- Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!

Xuân Khoa (thực hiện)

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/chuyen-doi-so-de-gan-dan-giup-bo-doi-bien-phong-nang-cao-hieu-qua-quan-ly-bao-ve-chu-quyen-lanh-tho-an-ninh-bien-gioi-quoc-gia-post506739.html