Chuyển đổi số ngân hàng gắn với quản trị rủi ro
Công nghệ tài chính giúp giảm chi phí, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, đồng thời làm gia tăng sự phụ thuộc vào dữ liệu, hạ tầng số và các nhà cung cấp công nghệ. Tại Diễn đàn Kinh tế Việt-Anh 2026, các diễn giả đề cập yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ quản lý và nâng khả năng duy trì dịch vụ khi xảy ra sự cố.

Toàn cảnh diễn đàn. (Ảnh: TM)
Đổi mới tài chính đi cùng quản trị rủi ro
Sáng 3/11, tại Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp Hội Hữu nghị Việt-Anh và các đối tác tổ chức Diễn đàn Kinh tế Việt-Anh 2026 với chủ đề “Công nghệ tài chính, ổn định tài chính và khả năng chống chịu hệ thống”. Diễn đàn quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia, học giả, đại diện các định chế tài chính và doanh nghiệp hai nước.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Thúy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: TM)
Phát biểu khai mạc, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Thúy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng công nghệ đang thay đổi cách các dịch vụ tài chính được thiết kế, cung cấp và giám sát. Từ ứng dụng ngân hàng trên thiết bị di động, thanh toán điện tử và tự động hóa quy trình, công nghệ đã đi sâu vào phân tích dữ liệu, cấp tín dụng, đầu tư và quản trị rủi ro. Trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ phát hiện gian lận, chấm điểm tín dụng và cá nhân hóa dịch vụ. Ngân hàng mở và các giao diện lập trình ứng dụng (API) giúp mở rộng kết nối, còn điện toán đám mây tạo điều kiện để các tổ chức tài chính mở rộng hoạt động và vận hành linh hoạt hơn.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Thúy, một sự cố công nghệ có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến hoạt động, thanh khoản và uy tín của tổ chức, thậm chí tác động đến ổn định tài chính. Một ngân hàng có hệ thống an ninh mạng tốt vẫn có thể dễ bị tổn thương nếu phụ thuộc quá lớn vào một nhà cung cấp điện toán đám mây, dữ liệu bị phân mảnh hoặc nhân viên chưa đủ khả năng xử lý sự cố.
“Đổi mới chỉ có thể tạo ra giá trị lâu dài nếu đi cùng với quản trị rủi ro hiệu quả, một khuôn khổ thể chế thích ứng và khả năng duy trì các dịch vụ thiết yếu khi xảy ra gián đoạn”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Thúy nói.
Đối với Việt Nam, bà đề cập yêu cầu chuyển sang cách quản lý có khả năng thích ứng khi công nghệ và mô hình kinh doanh thay đổi nhanh. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, ứng dụng công nghệ trong tuân thủ và giám sát có thể hỗ trợ quá trình này. Cùng với đó, hạ tầng tài chính số cần dựa trên định danh số, dữ liệu có chất lượng, hệ thống thanh toán an toàn và chuẩn mực bảo vệ dữ liệu rõ ràng. Với AI, bà lưu ý các vấn đề về khả năng giải thích, sai lệch thuật toán, quyền riêng tư và trách nhiệm đối với những quyết định được tự động hóa.

Ông Đỗ Việt Anh, đại diện Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. (Ảnh: TM)
Chia sẻ tại diễn đàn, ông Đỗ Việt Anh, đại diện Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, trong bối cảnh hội nhập tài chính sâu rộng và biến động kinh tế vĩ mô phức tạp, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động xây dựng khuôn khổ pháp lý về an toàn hoạt động theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Ông đề cập ba nhóm quy định về tỷ lệ an toàn vốn, hệ thống kiểm soát nội bộ và các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Theo ông, ba nhóm quy định có quan hệ chặt chẽ và việc triển khai phụ thuộc nhiều vào chất lượng hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu. Để thực hiện các yêu cầu về an toàn vốn, ngân hàng cần có khả năng đo lường rủi ro chính xác. Việc vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ với ba tuyến phòng thủ độc lập và kiểm định mô hình cũng cần nền tảng công nghệ đủ mạnh. Năng lực quản trị dòng tiền theo thời gian thực là một ví dụ khác về vai trò của công nghệ trong việc đáp ứng các yêu cầu an toàn hoạt động.
Nâng năng lực vận hành, cải thiện trải nghiệm khách hàng
Ông Đỗ Việt Anh nhìn nhận việc triển khai các quy định về an toàn là động lực để các tổ chức tín dụng tổ chức lại dữ liệu, số hóa quy trình quản trị rủi ro và đưa công nghệ vào vận hành. Theo ông, đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin là khoản đầu tư chiến lược vào năng lực chống chịu. Khi khai thác được dữ liệu rủi ro, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn. Về phía Ngân hàng Nhà nước, ông cho biết cơ quan này tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để kết nối dữ liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng, nâng hiệu quả cảnh báo sớm và giám sát, đồng thời khuyến khích các ngân hàng thương mại ứng dụng công nghệ mới một cách an toàn, hiệu quả.
Tại phiên toàn thể, bà Shania Fang-I Chien, Phó Chủ tịch phụ trách phát triển kinh doanh khu vực châu Á của Hiệp hội Chuyên gia Quản trị Rủi ro Toàn cầu (GARP), đề cập các rủi ro mới nổi và yêu cầu chuẩn bị kỹ năng cho đội ngũ khi công nghệ, mô hình tài chính thay đổi nhanh. Từ góc độ thị trường, PGS, TS Mattia Bevilacqua, Trường Quản lý thuộc Đại học Liverpool (Vương quốc Anh), giới thiệu tham luận về lý do tin xấu có tác động lớn hơn tin tốt trên thị trường tài chính.

Ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB). (Ảnh: TM)
Từ thực tiễn ngân hàng thương mại, ông Đỗ Quang Vinh, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB) cho rằng, số người dùng ứng dụng, số sản phẩm số và lượng giao dịch trực tuyến chủ yếu phản ánh phần khách hàng nhìn thấy. Để đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số, cần xem xét cả tính linh hoạt của hệ thống, khả năng tích hợp dữ liệu và năng lực sử dụng công nghệ của đội ngũ. Nghiên cứu được ông giới thiệu thu về 1.061 phản hồi hợp lệ từ cán bộ, nhân viên tại 20 ngân hàng thương mại, trong đó có 200 phản hồi tại SHB.
Theo kết quả bước đầu, 76,5% người tham gia cho rằng khách hàng dễ tiếp cận các phương thức thanh toán số hiện đại, trong khi khoảng 65% đánh giá tích cực về tốc độ và độ ổn định của hệ thống giao dịch. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận, số hóa quy trình tín dụng và ứng dụng AI để cải thiện sản phẩm, dịch vụ vẫn còn hạn chế. Có 77% người trả lời cho rằng năng suất của ngân hàng đã tăng, trong khi 63% đánh giá cao mức độ hài lòng của khách hàng. Cả hai tỷ lệ đều phản ánh nhận định của cán bộ, nhân viên. Nghiên cứu chưa khảo sát trực tiếp khách hàng và chưa đưa ra kết luận về quan hệ nhân quả.
Từ những kết quả này, ông Vinh đề xuất các ngân hàng tiếp tục hiện đại hóa hệ thống lõi, thống nhất cách định nghĩa dữ liệu và chuyển trọng tâm từ mở rộng kênh số sang những cải thiện mà khách hàng có thể cảm nhận. Theo ông, khả năng duy trì và khôi phục hoạt động còn phụ thuộc vào dữ liệu được tích hợp, hệ thống dễ sử dụng, việc báo cáo sự cố và khả năng ứng phó của nhân viên.
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy cho rằng phát triển đội ngũ có kiến thức đồng thời về tài chính, dữ liệu, công nghệ và quản trị rủi ro cần được coi là ưu tiên chiến lược. Bà kỳ vọng kinh nghiệm của Vương quốc Anh về công nghệ tài chính, ngân hàng mở và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cùng nhu cầu đổi mới của thị trường Việt Nam, sẽ mở ra cơ hội hợp tác cụ thể. Thông qua diễn đàn, Trường Đại học Kinh tế mong muốn thúc đẩy các chương trình nghiên cứu chung, đào tạo, trao đổi chuyên gia và tư vấn chính sách giữa các cơ quan quản lý, trường đại học và doanh nghiệp hai nước.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-ngan-hang-gan-voi-quan-tri-rui-ro-post999877.html
