Chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành chè

Thái Nguyên hiện có trên 22.000ha chè, sản lượng mỗi năm khoảng 280.000 tấn, chiếm hơn 18% diện tích và hơn 24% sản lượng chè búp tươi cả nước. Với mục tiêu nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm chè, tỉnh đang triển khai nhiều giải pháp đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào ngành chè.

Công nghệ được áp dụng vào quá trình chăm sóc cây chè

Công nghệ được áp dụng vào quá trình chăm sóc cây chè

Xu thế tất yếu

Hợp tác xã Trà Quê em được thành lập từ năm 2024, với quy mô 18 hộ liên kết. Hiện nay, vùng nguyên liệu của Hợp tác xã gần 6ha, trong đó có 5ha đang được chăm sóc theo tiêu chuẩn hữu cơ, còn lại đang thực hiện theo quy trình VietGAP. Ngoài thị trường trong tỉnh, sản phẩm chè của Hợp tác xã đã đến được với thị trường nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Các dòng sản phẩm chính của Hợp tác xã hiện nay gồm: trà tôm nõn, trà đinh, trà móc câu; trong đó sản phẩm trà tôm nõn đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao.

Để thực hiện mục tiêu tăng tổng số sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao và mở rộng thị trường tiêu thụ, Hợp tác xã đã chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến. Đồng thời, đưa chuyển đổi số vào quy trình quảng bá, giới thiệu sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là một trong những đơn vị đầu tiên của tỉnh thực hiện thành công đưa thông tin truy xuất nguồn gốc lên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Chuyển đổi số là xu thế tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp, hợp tác xã trước yêu cầu của thị trường. Chuyển đổi số không chỉ giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã thay đổi về tư duy quản trị hay mô hình sản xuất, kinh doanh mà còn là động lực để doanh nghiệp nói chung, ngành chè nói riêng tự khẳng định năng lực điều hành và chất lượng sản phẩm.

Đơn cử như tại Công ty CP Chè Tân Cương Hoàng Bình, xã Quyết Thắng, nhiều thiết bị hiện đại đã được đầu tư mới thay thế cho các phương tiện sản xuất cũ. Từ máy sao chè, đến máy vò, đóng gói chè… đều được ứng dụng bằng hệ thống tự động hóa, sử dụng công nghệ nhiệt điện, điều khiển nhiệt độ chính xác. Các giải pháp này giúp tăng năng suất gấp nhiều lần, tiết kiệm nhân công và giữ hương vị chè ổn định. Doanh nghiệp xác định, muốn sản phẩm chè đứng vững trên thị trường trong nước và quốc tế thì xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ và thực hiện quy trình sản xuất an toàn, hiện đại là yếu tố then chốt.

Bà Đỗ Thị Đức Lý, Tổng Giám đốc Công ty CP Chè Tân Cương Hoàng Bình, cho biết: Hiện nay, xu thế của thị trường cũng như toàn cầu là phải phát triển nền tảng kinh doanh thương mại điện tử, chính vì vậy để không bị lạc hậu, mỗi doanh nghiệp đều phải tự thay đổi, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, từ đó mới tiếp cận được thị trường. Trong chiến lược kinh doanh, chúng tôi luôn nỗ lực cải thiện điều kiện sản xuất, kinh doanh tốt nhất, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu khắt khe nhất của khách hàng trong nước và xuất khẩu.

Hình thành hệ sinh thái số

Tỉnh Thái Nguyên hiện có trên 22.200ha chè, sản lượng chè búp tươi đạt gần 280 nghìn tấn, giá trị sản phẩm trà đạt gần 14 nghìn tỷ đồng. Với mục tiêu cụ thể hóa Nghị quyết số 11/NQ-TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025 - 2030, đồng thời xây dựng ngành chè Thái Nguyên trở thành ngành nông nghiệp chủ lực phát triển theo hướng hiện đại, thông minh, tỉnh đã ban hành Kế hoạch chuyển đổi số ngành chè giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch được ban hành cũng nhằm hình thành hệ sinh thái số, tăng cường bảo vệ, khai thác, phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên và giá trị văn hóa trên môi trường số, nâng cao giá trị sản phẩm và đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh. Theo đó, tỉnh đề ra mục tiêu đến năm 2030, trên địa bàn cơ bản hình thành hệ sinh thái số ngành chè; phấn đấu đến năm 2030, 100% xã, phường có diện tích chè được thiết lập cập nhật dữ liệu; tối thiểu 70% diện tích chè có hồ sơ số và dữ liệu bản đồ GIS ở mức phù hợp.

Nền tảng số hỗ trợ các hợp tác xã trong quá trình quảng bá sản phẩm chè.

Nền tảng số hỗ trợ các hợp tác xã trong quá trình quảng bá sản phẩm chè.

Ông Vũ Văn Phán, Chủ tịch Hội Chè tỉnh Thái Nguyên thông tin: Ngay sau khi kế hoạch chuyển đổi số ngành chè được ban hành, Hội Chè tỉnh Thái Nguyên đã chủ động tuyên truyền đến các hội viên, hợp tác xã và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chè tiếp tục ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh chè. Hội Chè cũng phối hợp với các đơn vị, sở, ngành hỗ trợ người làm chè được tham gia tập huấn về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong toàn bộ quá trình từ trồng, chế biến đến đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Quản lý chuyên ngành, Sở Khoa học và Công nghệ khẳng định: Với vai trò là cơ quan đầu mối được tỉnh giao nhiệm vụ thực hiện kế hoạch chuyển đổi số ngành chè, thời gian tới, Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với các sở, ngành, địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp để triển khai hiệu quả, thiết thực theo hướng là trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng vùng chè. Trước mắt, sẽ tập trung chuẩn hóa dữ liệu ngành chè, trữ lượng, truy xuất nguồn gốc, thương mại số và đặc biệt là sẽ tiến tới từng bước áp dụng mạnh mẽ công nghệ số để phục vụ công tác quản lý, sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chè.

Để chè Thái Nguyên vươn xa, giúp người dân làm giàu, tăng thu nhập việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số phải được thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn. Đặc biệt, việc truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch và minh bạch thông tin sản phẩm là yêu cầu tất yếu. Có như vậy chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ sẽ phát huy hiệu quả là bệ đỡ trong việc bảo vệ thương hiệu, nâng cao giá trị và giúp sản phẩm tiếp cận hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế.

 Hồng Hạnh

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/chuyen-doi-so-thuc-day-tang-truong-nganh-che-3k5s9c3i