Chuyển đổi số và dòng vốn chiến lược: Định hình năng lực nội sinh giúp Thủ đô tự chủ và thịnh vượng
Chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới cho Hà Nội, nhưng cũng đặt ra những thách thức ngày càng lớn về an ninh mạng, an toàn dữ liệu và chủ quyền số. Khi công nghệ trở thành hạ tầng thiết yếu của đô thị, bảo vệ hệ thống số không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là điều kiện để Thủ đô phát triển an toàn, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Bên cạnh bài toán chuyển đổi số, Hà Nội cũng đang đứng trước cơ hội mở rộng không gian phát triển, thu hút dòng vốn quốc tế và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng sức hấp dẫn của một đô thị không chỉ nằm ở số vốn thu hút được mà còn ở khả năng biến nguồn lực bên ngoài thành năng lực phát triển nội sinh. Thủ đô cần chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn có chiều sâu, đồng thời chủ động nhận diện và kiểm soát rủi ro kinh tế, xã hội, an ninh ngay trong quá trình mở cửa. Trong thế giới mà vốn, công nghệ, dữ liệu, nhân lực và chuỗi cung ứng dịch chuyển xuyên biên giới ngày càng nhanh, sức mạnh đô thị còn được quyết định bởi khả năng kết nối với thế giới và biến kết nối thành giá trị lâu dài.
Khi dữ liệu trở thành một phần của hạ tầng phát triển

Chuyển đổi số trong Công an nhân dân góp phần tạo nên văn minh xã hội
Có một Hà Nội đang hiện hữu bằng những cây cầu, tuyến đường, khu đô thị mới. Nhưng cũng có một Hà Nội khác đang hình thành từng ngày mà mắt thường khó nhận thấy. Đó là Hà Nội của những dòng dữ liệu liên tục được tạo ra từ giao thông, y tế, giáo dục, môi trường, năng lượng và dịch vụ công; của những hệ thống có thể phân tích lượng thông tin khổng lồ để hỗ trợ quyết định quản lý; của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây và những nền tảng số ngày càng len sâu vào đời sống.
Nếu những con đường là mạch giao thông đưa người và hàng hóa đi qua thành phố, thì dữ liệu đang dần trở thành mạch thông tin giúp đô thị vận hành. Một dịch vụ công trực tuyến, hệ thống điều hành giao thông hay cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý dân cư đều cho thấy công nghệ đã trở thành một phần trong cách thành phố được tổ chức và quản trị.
Nghị quyết 02-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới, hướng tới một Thủ đô xanh, thông minh, hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao. Nhưng khi thành phố ngày càng thông minh, câu hỏi về an toàn cũng thay đổi. Nếu trước đây, bảo đảm an ninh thường được hình dung qua việc giữ gìn trật tự trên đường phố, bảo vệ công trình và địa bàn dân cư, thì nay yêu cầu ấy còn mở rộng đến những hệ thống vô hình nhưng có thể tác động trực tiếp tới hoạt động của cả đô thị. Làm thế nào để một thành phố ngày càng được vận hành bằng dữ liệu có đủ năng lực bảo vệ chính những dữ liệu ấy? Đây là một phần trong bài toán phát triển bền vững của Hà Nội.

Chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới cho Hà Nội, nhưng cũng đặt ra những thách thức ngày càng lớn về an ninh mạng, an toàn dữ liệu và chủ quyền số (Ảnh minh họa)
Hà Nội đang hình thành thêm một lớp hạ tầng mới - hạ tầng số. Đó là những hệ thống người dân sử dụng mỗi ngày thông qua thao tác trên điện thoại, dịch vụ công trực tuyến, giao dịch điện tử hay ứng dụng đô thị. Một thành phố thông minh không chỉ có thêm thiết bị công nghệ mà cần khả năng kết nối thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định nhanh, chính xác hơn để nâng cao chất lượng quản trị, phục vụ người dân. Nghị quyết 02-NQ/TW yêu cầu chuyển từ “quy hoạch tĩnh” sang “quy hoạch động và mở”, gắn quy hoạch với dữ liệu số, nền tảng phân tích và mô phỏng đô thị thông minh; đồng thời thúc đẩy quản lý đô thị thông minh dựa trên chuyển đổi số toàn diện. Dữ liệu vì thế không còn chỉ là những con số được lưu trữ, mà tham gia vào cách thành phố quy hoạch, tổ chức giao thông, cung cấp dịch vụ công và phân bổ nguồn lực.
Theo ông Vũ Duy Hiền - Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA), CEO Công ty CP công nghệ an ninh mạng quốc gia Việt Nam (NCS), việc Hà Nội xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực phát triển chủ yếu mở ra cơ hội tạo bước đột phá về năng lực quản trị, chất lượng dịch vụ công và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, không gian phát triển số càng mở rộng thì nguy cơ an ninh mạng càng gia tăng về quy mô, mức độ phức tạp và khả năng tác động đến xã hội.
Hà Nội cần đặc biệt quan tâm đến 4 nhóm nguy cơ: Mất an toàn đối với dữ liệu và hệ thống thông tin quan trọng; tấn công mạng, lừa đảo sử dụng AI ngày càng tinh vi; chênh lệch về năng lực bảo đảm an ninh mạng giữa các cơ quan, đơn vị; kỹ năng an toàn số của người sử dụng chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ. Khi các hệ thống được kết nối để phục vụ điều hành và cung cấp dịch vụ, một lỗ hổng bảo mật tại một đơn vị có thể trở thành điểm khởi đầu cho cuộc tấn công ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác.
Dữ liệu cá nhân, dữ liệu quản lý Nhà nước và dữ liệu thuộc các ngành thiết yếu, vì vậy cần được bảo vệ tương xứng với tầm quan trọng. Một hệ thống dịch vụ công bị tấn công có thể khiến người dân không thực hiện được thủ tục hành chính. Hệ thống công nghệ của bệnh viện bị gián đoạn có thể ảnh hưởng đến hoạt động khám, chữa bệnh; sự cố tại hệ thống thanh toán có thể làm đình trệ các giao dịch kinh tế.
Những ví dụ ấy cho thấy sự cố trên không gian mạng hoàn toàn có thể tạo ra tác động trực tiếp trong đời sống thực. Vì vậy, bảo vệ an ninh mạng không thể chỉ dừng ở việc bảo vệ từng máy chủ, phần mềm hay đường truyền riêng lẻ. Điều quan trọng hơn là bảo vệ khả năng vận hành ổn định của cả hệ thống. Đây cũng là điểm giao thoa giữa yêu cầu phát triển đô thị thông minh và tư duy bảo đảm an ninh trong tình hình mới.

Không gian làm việc tại Trung tâm Giám sát An ninh mạng, Công an TP Hà Nội
Nghị quyết 22-NQ/TW về Chiến lược an ninh quốc gia nhấn mạnh cách tiếp cận từ “bảo vệ lĩnh vực” sang “bảo vệ hệ thống”; chủ động nhận diện, dự báo và quản trị sự tương tác giữa các nguy cơ từ sớm, trong suốt quá trình phát triển. Nghị quyết đặt an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an ninh công nghệ vào vị trí trọng tâm; đồng thời yêu cầu phát triển hạ tầng bảo mật, bảo vệ các hạ tầng kỹ thuật và thông tin trọng yếu, bảo đảm chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu và tăng cường năng lực quản trị an ninh trong nghiên cứu, phát triển, ứng dụng AI. Với Hà Nội, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi thành phố đồng thời theo đuổi 2 mục tiêu: Số hóa mạnh hơn và phát triển nhanh hơn.
An ninh phải đi cùng công nghệ ngay từ lúc thiết kế
Trong không gian vật lý, một công trình có thể được gia cố, sửa chữa sau khi hoàn thành. Nhưng với hệ thống số, chờ đến khi xảy ra sự cố mới bổ sung các lớp bảo vệ có thể phải trả giá bằng chính dữ liệu và hoạt động đã bị tổn thương. Bởi vậy, an ninh không thể là lớp áo khoác mặc thêm cho công nghệ sau khi hoàn thiện. Yêu cầu bảo vệ phải được tính đến ngay từ khi xây dựng chính sách, thiết kế hệ thống, lựa chọn công nghệ và tổ chức vận hành.

Khu công nghiệp Thăng Long (còn gọi là KCN Bắc Thăng Long) là một trong những khu công nghiệp tiên phong và lớn nhất tại Hà Nội
Nghị quyết 22-NQ/TW đặt ra yêu cầu bảo đảm an ninh trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI; quản trị trí tuệ nhân tạo theo vòng đời, tích hợp yêu cầu an ninh từ khâu thiết kế đến triển khai. Cách tiếp cận này đặc biệt quan trọng khi các hệ thống số ngày càng liên kết chặt chẽ, còn công nghệ mới có thể bị lợi dụng để tạo ra những phương thức tấn công khó nhận diện.
Trung tướng, GS.TS Trần Vi Dân - Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, thành viên Ban Nghiên cứu chuyên đề giúp việc Bộ trưởng Bộ Công an, nhìn nhận chuyển đổi số là con đường tất yếu để chuyển đổi mô hình phát triển sang phương thức dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà phải trở thành động lực nâng cao hiệu quả quản lý, quản trị và chất lượng hoạt động trên các lĩnh vực.

Hà Nội đang tiếp tục được đánh giá là điểm đến an toàn, hấp dẫn và tiềm năng đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài
Theo Trung tướng Trần Vi Dân, bản chất của chuyển đổi số là khai thác công nghệ số một cách thực chất, tạo ra thay đổi căn bản trong phương thức vận hành, chứ không đơn thuần đưa thêm công nghệ vào quy trình hiện có. Từ góc nhìn này, chuyển đổi số phải đi cùng năng lực quản trị, cơ chế vận hành và trách nhiệm bảo đảm an ninh. Nếu chỉ tập trung mua sắm thiết bị, xây dựng phần mềm hay số hóa giấy tờ mà không thay đổi cách làm, hiệu quả đầu tư sẽ khó tương xứng. Ngược lại, nếu hệ thống được thiết kế thiếu các lớp bảo vệ, lợi ích từ kết nối và tự động hóa có thể đi kèm rủi ro lớn hơn.

An ninh mạng là nền tảng quan trọng, giữ vai trò bảo đảm an toàn và tạo động lực thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số
Trung tướng Trần Vi Dân chỉ ra 4 thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi số. Trước hết là nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả, tránh đầu tư thiếu trọng tâm; đồng thời xây dựng cơ chế giám sát minh bạch, chủ động phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong triển khai và vận hành hệ thống số.
Thách thức thứ hai là khắc phục tư duy hình thức. Chuyển đổi số phải tạo chuyển biến thực chất trong quy trình, phương thức làm việc và văn hóa tổ chức. Yếu tố quyết định nằm ở tư duy, tầm nhìn của người lãnh đạo cùng thể chế và cơ chế vận hành phù hợp.
Thứ ba là bảo đảm tự chủ công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và giảm phụ thuộc từ bên ngoài. Nếu thiếu năng lực tự chủ, Việt Nam có thể đối mặt với rủi ro về an toàn dữ liệu, chủ quyền số và khả năng kiểm soát không gian mạng.
Thứ tư là chủ động bảo đảm an ninh trong môi trường số. Công nghệ mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng làm xuất hiện những nguy cơ mới đối với an ninh con người, an ninh chính trị, văn hóa, tư tưởng và tình hình tội phạm công nghệ cao. Vấn đề không chỉ nằm ở bản thân công nghệ, mà còn ở cách con người phát triển, quản lý và sử dụng công nghệ đó.
Những yêu cầu trên cho thấy bảo đảm an ninh mạng cần bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị, không chờ đến khi hệ thống đi vào hoạt động mới đánh giá. Mỗi dự án chuyển đổi số cần có phương án bảo vệ dữ liệu, kiểm soát truy cập, giám sát an ninh mạng và ứng cứu sự cố ngay từ đầu.
Các hệ thống cũng cần được phân loại theo mức độ quan trọng để xác định thứ tự ưu tiên bảo vệ. Không có hệ thống công nghệ nào an toàn tuyệt đối, vì vậy bên cạnh phòng ngừa tấn công, Hà Nội cần có khả năng phát hiện sớm, cô lập nguy cơ, duy trì hoạt động thiết yếu và khôi phục hệ thống trong thời gian ngắn nhất.
Xây dựng “hệ miễn dịch số” cho Thủ đô
Những yêu cầu về bảo vệ dữ liệu và hạ tầng số đang từng bước được cụ thể hóa trong các kế hoạch của Hà Nội. Tháng 4-2026, UBND TP ban hành kế hoạch bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị.
Thành phố đặt mục tiêu rà soát, khắc phục lỗ hổng, điểm yếu an ninh mạng; đánh giá tổng thể các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin và nguồn nhân lực; đồng thời xây dựng, đưa vào vận hành Trung tâm An ninh mạng thành phố để giám sát, sẵn sàng ứng phó nguy cơ tấn công mạng. Với những hệ thống thông tin đang xây dựng hoặc sẽ triển khai, thành phố yêu cầu thực hiện phê duyệt cấp độ an toàn thông tin trước khi đưa vào vận hành chính thức.

An ninh kinh tế trong FDI còn gắn với ổn định thị trường lao động, quyền lợi người lao động
Tháng 5-2026, UBND TP Hà Nội tiếp tục yêu cầu các cơ quan, đơn vị hoàn thành hồ sơ đề xuất cấp độ an toàn thông tin đối với 100% hệ thống đang quản lý, vận hành; triển khai giải pháp giám sát an ninh mạng cho hệ thống máy chủ, máy trạm. CATP Hà Nội được giao hướng dẫn các đơn vị, phối hợp giám sát và ứng phó sự cố.
Ở cấp độ gần dân hơn, Hà Nội cũng đặt ra nhiệm vụ bảo vệ người dân trước lừa đảo và các rủi ro trên không gian mạng, hướng tới giảm thiểu thiệt hại, tiếp nhận và xử lý nhanh phản ánh, tổ chức diễn tập an ninh mạng và phòng, chống lừa đảo trực tuyến định kỳ. Những nhiệm vụ này cho thấy an ninh số không nằm ở đâu xa. Nó bắt đầu từ điện thoại của người dân, máy chủ của cơ quan Nhà nước, hệ thống của doanh nghiệp và những dữ liệu được tạo ra mỗi ngày.
Theo ông Vũ Duy Hiền, Hà Nội cần xác định đúng những tài sản số ưu tiên bảo vệ, phân loại hệ thống thông tin và dữ liệu theo mức độ quan trọng để đầu tư phù hợp; đồng thời xây dựng năng lực giám sát, phục hồi hệ thống và từng bước nâng cao khả năng tự chủ công nghệ an ninh mạng. Đối với các hệ thống trọng yếu, việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng giải pháp an ninh mạng do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn an toàn, có ý nghĩa quan trọng đối với chủ quyền số và khả năng tự chủ lâu dài. Cùng với đó, cần thúc đẩy phối hợp giữa cơ quan quản lý, lực lượng chức năng, doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ chuyên gia để hình thành hệ sinh thái bảo vệ an ninh mạng thống nhất, hiệu quả.
Nguồn nhân lực cũng là khâu không thể bỏ qua. Một hệ thống dù được đầu tư tốt vẫn có nguy cơ mất an toàn nếu thiếu quy trình vận hành, giám sát thường xuyên hoặc nhân sự đủ năng lực xử lý sự cố. Vì thế, bảo đảm an ninh mạng cần gắn với đào tạo cán bộ và nâng cao kỹ năng số cho người dân. Từ cán bộ, công chức, người lao động đến học sinh, sinh viên, mỗi người cần biết nhận diện lừa đảo, bảo vệ thông tin cá nhân và sử dụng dịch vụ số an toàn. Trong môi trường số, ý thức tự bảo vệ của từng cá nhân góp phần tạo nên một cộng đồng an toàn hơn.
Bên cạnh phòng ngừa, diễn tập cũng là khâu quan trọng để kiểm tra năng lực thực tế. Theo ông Vũ Duy Hiền, diễn tập an ninh mạng không nên chỉ dừng ở kiểm tra kỹ thuật, mà cần xây dựng tình huống có thể ảnh hưởng đồng thời đến nhiều cơ quan, lĩnh vực. Qua đó, từng đơn vị xác định rõ trách nhiệm, quy trình phối hợp và khả năng duy trì hoạt động khi xảy ra sự cố nghiêm trọng.
Công nghệ phục vụ người dân, an ninh tạo nền tảng phát triển
Cùng với việc bảo vệ các hệ thống trọng yếu, chuyển đổi số trong lực lượng Công an Hà Nội cũng đang mở rộng phương thức tiếp nhận thông tin, hỗ trợ người dân và nâng cao năng lực quản lý địa bàn.
Ngày 31-7-2025, CATP Hà Nội ra mắt “Trợ lý ảo” - Tổng đài 1900.0113, sản phẩm phối hợp với Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội. Hệ thống ứng dụng AI để hỗ trợ giải đáp thông tin về thủ tục hành chính, pháp luật, tiếp nhận phản ánh và tố giác tội phạm. CATP cũng triển khai chatbot AI hoạt động 24/7, tương tác bằng giọng nói và văn bản; triển khai Tổng đài thông minh 113 - 114, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ phát triển Hanoi Smart Police, tích hợp dưới dạng mini app trên iHanoi. Theo thông tin trong bản thảo, iHanoi có hơn 6 triệu người dân cài đặt và sử dụng thường xuyên.
Từ ngày 1-6-2026, CATP bắt đầu thử nghiệm thiết bị bay không người lái (UAV) phục vụ tuần tra, giám sát an ninh, trật tự; hình ảnh được truyền theo thời gian thực về Trung tâm thông tin chỉ huy. Tháng 7-2026, thành phố đưa vào vận hành 36 màn hình LED thông tin, cảnh báo giao thông điện tử, kết hợp gần 5.000 camera AI và công cụ trợ lý ảo AI. Những ứng dụng này cho thấy công nghệ có thể giúp lực lượng chức năng tiếp nhận thông tin, tăng cường giám sát và nâng cao khả năng phản ứng. Tuy nhiên, càng nhiều hệ thống được kết nối, yêu cầu bảo vệ dữ liệu, kiểm soát quyền truy cập và bảo đảm an toàn vận hành càng cần được chú trọng. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi đi cùng cơ chế quản trị phù hợp.
Trung tướng Trần Vi Dân nhấn mạnh, chuyển đổi số phải đi vào thực chất, tạo ra hiệu quả có thể đo lường, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh trong suốt quá trình vận hành. CATP Hà Nội cần phát huy vai trò tham mưu, phối hợp và điều phối cùng cấp ủy, chính quyền trong xây dựng định hướng chuyển đổi số tổng thể, đồng bộ; khai thác lợi thế khoa học, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo để phục vụ phát triển, đồng thời chủ động nhận diện và kiểm soát rủi ro.
Từ góc nhìn của NCA, an ninh mạng cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược, thay vì chỉ là chi phí kỹ thuật. Một nền tảng an ninh mạng đủ mạnh sẽ tạo dựng niềm tin, bảo vệ thành quả phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ông Vũ Duy Hiền ví an ninh mạng như hệ thống phanh của một chiếc ô tô: Phanh tốt không làm chiếc xe chạy chậm đi, mà giúp người lái tự tin đi nhanh hơn, an toàn hơn và kiểm soát rủi ro tốt hơn. Với chuyển đổi số cũng vậy, bảo đảm an ninh không phải hàng rào cản trở đổi mới mà là điều kiện để công nghệ được ứng dụng rộng rãi và bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Hà Nội cần kết nối nguồn lực của Nhà nước, lực lượng chức năng, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức chuyên môn và cộng đồng chuyên gia. Cùng với đào tạo nhân lực và phát triển sản phẩm, cần thúc đẩy chia sẻ thông tin về các mối đe dọa, cảnh báo sớm, diễn tập và phối hợp ứng cứu sự cố. Không một cơ quan hay doanh nghiệp nào có thể tự mình nắm bắt đầy đủ mọi nguy cơ trên không gian mạng.
Hà Nội cũng có lợi thế về nguồn nhân lực, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ để phát triển công nghiệp an ninh mạng. Nếu có cơ chế kết nối phù hợp giữa nghiên cứu, phát triển sản phẩm và nhu cầu thực tiễn, đầu tư cho an ninh mạng không chỉ giúp bảo vệ hệ thống mà còn có thể thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Một Thủ đô thông minh vì thế cần nhiều hơn những nền tảng công nghệ hiện đại. Thành phố cần một “hệ miễn dịch số” đủ khả năng nhận diện bất thường, ngăn chặn nguy cơ, phục hồi sau sự cố và bảo vệ người dân. Hệ miễn dịch ấy không chỉ được tạo nên bởi phần mềm hay thiết bị, mà còn bởi năng lực quản trị, nhân lực, cơ chế phối hợp và văn hóa an toàn số trong toàn xã hội.
Nghị quyết 02-NQ/TW mở ra tầm nhìn phát triển mới cho Hà Nội, trong đó khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghị quyết 22-NQ/TW đặt ra yêu cầu chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh các nguy cơ ngày càng đan xen và có thể lan truyền giữa nhiều lĩnh vực. Hai định hướng gặp nhau ở một yêu cầu căn bản: Phát triển phải đi cùng năng lực tự bảo vệ, còn an ninh cần được tích hợp ngay trong quá trình kiến tạo những giá trị mới.
Hà Nội càng thông minh, các hệ thống càng kết nối sâu rộng, dữ liệu càng trở thành nguồn lực quan trọng thì yêu cầu bảo đảm an ninh mạng càng không thể đứng ngoài quá trình phát triển. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là xây dựng một Thủ đô hiện đại với nhiều dịch vụ số và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Đó phải là một Thủ đô thông minh, an toàn, đáng sống, nơi công nghệ thực sự phục vụ con người, người dân và doanh nghiệp tin tưởng vào môi trường số, còn an ninh mạng trở thành nền tảng để Hà Nội tự tin bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Từ thu hút vốn đến lựa chọn động lực tăng trưởng
Quy hoạch Hà Nội với tầm nhìn 100 năm mở thêm không gian phát triển, hướng tới xây dựng Thủ đô thành trung tâm lớn về kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, có khả năng kết nối khu vực và quốc tế. Trong cuộc cạnh tranh thu hút tập đoàn toàn cầu, Hà Nội cần đón dòng vốn chất lượng cao nhưng vẫn giữ thế chủ động trước biến động bên ngoài.
Đó cũng là điểm gặp nhau giữa Nghị quyết 02-NQ/TW về phát triển Thủ đô và Nghị quyết 22-NQ/TW về Chiến lược an ninh quốc gia. Nếu Nghị quyết 02 mở ra tầm nhìn phát triển nhanh và hội nhập sâu hơn, tinh thần Nghị quyết 22 đặt ra yêu cầu chủ động nhận diện, dự báo và quản trị rủi ro, bảo đảm an ninh đi cùng từng bước phát triển.
Trong tầm nhìn của Nghị quyết 02-NQ/TW, Hà Nội cần hình thành những động lực tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Điều đó đòi hỏi thành phố thu hút các tập đoàn lớn, nhà đầu tư chiến lược, nguồn vốn và nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao năng lực hội nhập quốc tế.
Theo Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài, từ năm 1989 đến hết tháng 8-2026, Hà Nội thu hút khoảng 75,2 tỷ USD vốn FDI, thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước. Giai đoạn 2026 - 2030, thành phố đặt mục tiêu thu hút 25 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó khoảng 50% vốn mới hướng vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, R&D và công nghiệp xanh. Thách thức không chỉ là thu hút vốn, mà còn phải xác định nguồn vốn đầu tư vào đâu, tạo ra giá trị gì và đóng góp thế nào cho năng lực phát triển lâu dài.
TS Nguyễn Anh Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) đánh giá Hà Nội đã đạt nhiều kết quả tích cực trong thu hút FDI, hình thành các khu công nghiệp, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm và hỗ trợ chuyển giao công nghệ ở mức độ nhất định. Những dự án như Khu công nghiệp Thăng Long và sự hiện diện của tập đoàn Canon cho thấy khả năng kết nối với mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Trong lĩnh vực đào tạo, dự án Đại học Việt Nhật tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc mở ra kỳ vọng phát triển nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Anh Tuấn, kết quả thu hút FDI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Hà Nội, xét cả về chất lượng, số lượng và vai trò đầu tàu kinh tế. Là trung tâm nghiên cứu, tập trung nhiều trường đại học và nguồn nhân lực trí thức, Hà Nội có lợi thế để thu hút các dự án công nghệ cao, R&D và đổi mới sáng tạo, nhưng những lợi thế đó chưa được chuyển hóa đầy đủ thành sức hấp dẫn đầu tư. Việc đào tạo lao động đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư cũng còn hạn chế. Vì vậy, Hà Nội cần chuyển từ tư duy thu hút FDI theo số lượng sang lựa chọn dòng vốn có chiều sâu, tạo giá trị gia tăng và lan tỏa công nghệ.
Trung tướng, GS.TS Trần Vi Dân cho rằng, việc đánh giá hiệu quả FDI cần tập trung vào 2 mục tiêu lớn: Tạo nguồn thu ngân sách, giải quyết việc làm; tiếp nhận, tích lũy, từng bước làm chủ công nghệ. Đóng góp về vốn, ngân sách và việc làm có thể nhìn nhận trực tiếp, còn chuyển giao công nghệ, tích lũy tri thức và nâng cao năng lực sản xuất cần được đánh giá sâu hơn. Một dự án còn phải được nhìn qua khả năng đào tạo lao động, nâng trình độ công nghệ và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Mở cửa nhưng không đánh mất thế chủ động
Một dự án đầu tư không chỉ mang theo vốn mà còn có thể kéo theo công nghệ, dữ liệu, chuyên gia, lao động, chuỗi cung ứng và mạng lưới đối tác. Khu công nghiệp mới tạo việc làm nhưng làm tăng nhu cầu về giao thông, nhà ở, trường học, y tế; trung tâm nghiên cứu đem lại công nghệ mới nhưng đòi hỏi bảo vệ tài sản trí tuệ, dữ liệu và bí mật công nghệ; trung tâm tài chính mở rộng kết nối dòng tiền nhưng cũng cần năng lực phòng ngừa gian lận, rửa tiền và tội phạm công nghệ cao. Quy mô dự án càng lớn, hệ sinh thái phía sau càng rộng. Bảo đảm an ninh vì vậy còn là giữ môi trường để dòng vốn vận hành an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng và giá trị đầu tư lan tỏa trong nền kinh tế.
Nghị quyết 22-NQ/TW đặt an ninh kinh tế trong tổng thể an ninh quốc gia, gắn với an ninh năng lượng, nguồn nước, môi trường, lương thực và yêu cầu chủ động nhận diện, dự báo, quản lý rủi ro từ sớm. Tinh thần xuyên suốt là không đánh đổi an ninh lấy tăng trưởng, đồng thời để an ninh góp phần kiến tạo nguồn lực và động lực mới cho phát triển. An ninh không có nghĩa dựng hàng rào ngăn Hà Nội tiếp xúc với thế giới, mà là tạo năng lực mở cửa chủ động, nhận diện rủi ro và chuẩn bị phương án ứng phó. Cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, dịch chuyển chuỗi cung ứng hay biến động tài chính, năng lượng đều có thể tác động đến doanh nghiệp; điều quan trọng là khả năng thích ứng và phục hồi của thành phố.
Trung tướng Trần Vi Dân lưu ý, thu hút FDI cần đi kèm quản lý những vấn đề về quan hệ lao động, nguy cơ tranh chấp, đình công, an ninh công nhân, chuyển giá và áp lực lên hạ tầng đô thị. Những rủi ro này cần được theo dõi, đánh giá để phòng ngừa từ sớm, bảo đảm môi trường đầu tư ổn định và hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, người lao động và xã hội.
Bên cạnh đó, việc làm và an sinh cũng cần được nhìn xa hơn. Lao động khoảng 34-40 tuổi trong các dây chuyền sản xuất có thể gặp khó khăn khi không còn phù hợp với công việc, trong khi học nghề mới không dễ dàng. Thiếu đào tạo lại và hỗ trợ chuyển đổi nghề có thể khiến họ mất sinh kế.
Vì vậy, an ninh kinh tế còn gắn với ổn định thị trường lao động, quyền lợi người lao động và khả năng thích ứng của cộng đồng. Môi trường, tài nguyên và hạ tầng cũng cần được tính đến ngay khi thẩm định dự án, bởi ô nhiễm hay hệ lụy xã hội lâu dài có thể làm suy giảm lợi ích tổng thể. Thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh kinh tế vì thế không phải hai nhiệm vụ đối lập. Quản trị rủi ro từ sớm giúp lựa chọn dự án phù hợp, giảm chi phí khắc phục hậu quả và tạo môi trường ổn định để doanh nghiệp phát triển dài hạn.
Muốn giữ chân dòng vốn, phải tạo ra giá trị lan tỏa
Một thước đo quan trọng của chất lượng FDI là mức độ liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước. Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, Hà Nội đã quan tâm kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa và tổ chức nhiều sự kiện xúc tiến, giao thương. Tuy nhiên, số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn lớn vẫn còn ít; phần lớn linh kiện, phụ tùng vẫn do các doanh nghiệp phụ trợ đi theo nhà đầu tư nước ngoài cung ứng.
Nguyên nhân chủ yếu là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước còn hạn chế, từ công nghệ, giá thành đến quản trị. Điều này khiến doanh nghiệp Việt Nam chưa thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn toàn cầu. Nếu khu vực FDI hoạt động trong hệ sinh thái ít liên kết với doanh nghiệp nội địa, giá trị tạo ra sẽ khó lan tỏa rộng. Ngược lại, khi doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng sản phẩm, tiếp nhận quy trình sản xuất, cải thiện quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tác động của FDI sẽ vượt ra ngoài phạm vi một dự án.
TS Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, Hà Nội cần tạo lập hệ sinh thái gắn kết FDI với khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà nước; đồng thời gắn thu hút đầu tư với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, AI, dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn và dịch vụ tài chính cao cấp. Thành phố cần thường xuyên rà soát danh mục dự án kêu gọi đầu tư, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với nhu cầu phát triển; tiếp tục phát triển Khu công nghệ cao Hòa Lạc để tiếp nhận các dự án chiến lược. Xúc tiến đầu tư cần chuyển từ hội nghị chung sang tiếp xúc trực tiếp với nhóm nhà đầu tư phù hợp, trên cơ sở chuẩn bị kỹ thông tin dự án, điều kiện triển khai và phương án tháo gỡ vướng mắc. Quan trọng không kém là hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực.
Theo đề xuất của TS Nguyễn Anh Tuấn, cơ quan chức năng cần phối hợp với VAFIE và các hiệp hội ngành nghề tổ chức đối thoại, diễn đàn giao thương trực tiếp giữa các tập đoàn FDI với doanh nghiệp sản xuất nội địa. Chương trình hỗ trợ cần hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng, giúp họ tiếp cận vốn, nâng cao năng lực công nghệ và quản trị, giảm giá thành, cải thiện chất lượng sản phẩm và kỹ năng đàm phán với bộ phận thu mua của các tập đoàn lớn. Kết nối không thể dừng ở vài sự kiện. Doanh nghiệp nội địa cần đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ giao hàng và yêu cầu quản trị của chuỗi cung ứng quốc tế. Khi năng lực tăng lên, doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, giảm phụ thuộc vào một số nguồn cung và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế.
Chuẩn bị hạ tầng, nhân lực và thể chế cho cuộc cạnh tranh dài hạn
Muốn thu hút nhà đầu tư chiến lược, Hà Nội không thể chỉ có danh mục dự án hấp dẫn mà cần chuẩn bị đủ điều kiện để dự án triển khai, vận hành ổn định. Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, những yếu tố quan trọng gồm mặt bằng, hạ tầng đồng bộ, nguồn năng lượng ổn định - đặc biệt là năng lượng sạch cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI và dữ liệu lớn - cùng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đào tạo cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
Mô hình “kỹ sư thực chiến”, kết hợp lý thuyết với thực hành và liên kết với các tập đoàn lớn, giúp người học tiếp cận sớm công nghệ, quy trình và tiêu chuẩn sản xuất. Các trường đại học cần điều kiện triển khai chương trình linh hoạt, đầu tư trọng điểm cho phòng thí nghiệm và nghiên cứu, qua đó nâng cao khả năng cung ứng nhân lực cho ngành công nghệ mới. Chính sách nhân lực cũng cần hỗ trợ đào tạo lại, chuyển đổi nghề cho lao động hiện hữu để họ thích ứng khi công nghệ và yêu cầu công việc thay đổi.
Từ góc độ an ninh, Trung tướng Trần Vi Dân nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả FDI cần gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững. Những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm, làm gia tăng áp lực hạ tầng hoặc để lại hệ lụy xã hội lâu dài cần được đánh giá thận trọng ngay từ khâu lựa chọn, thẩm định. Năng lực cạnh tranh của đô thị vì thế không chỉ được quyết định bởi ưu đãi đầu tư. Hạ tầng đáp ứng yêu cầu, nhân lực phù hợp, năng lượng ổn định, thủ tục minh bạch và khả năng quản trị rủi ro mới tạo sức hấp dẫn bền vững. An ninh kinh tế bắt đầu từ khâu chuẩn bị điều kiện phát triển, thẩm định dự án và nhận diện nguy cơ, đồng thời cần cơ chế giám sát phù hợp trong suốt vòng đời đầu tư.
Niềm tin nhà đầu tư - một phần của “thế trận an ninh”
Môi trường đầu tư an toàn không chỉ dựa vào ưu đãi, mà còn cần thủ tục minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, giải quyết tranh chấp theo pháp luật và duy trì đối thoại với doanh nghiệp. Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, Hà Nội cần duy trì thông điệp chính sách nhất quán, khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế; đồng thời bảo đảm đối xử bình đẳng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Thành phố cần tiếp tục cải thiện thủ tục hành chính, xử lý kịp thời vướng mắc về thuế, hải quan, đất đai và các điều kiện hoạt động khác thông qua đối thoại thường xuyên. Với nhà đầu tư chiến lược và chuyên gia trong ngành công nghệ mũi nhọn, thủ tục thị thực, lưu trú và điều kiện làm việc cũng cần được xử lý phù hợp.
TS Nguyễn Anh Tuấn dẫn kinh nghiệm trong đại dịch Covid-19, khi Chính phủ kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để chuyên gia và kỹ sư nước ngoài nhập cảnh, giúp hoạt động sản xuất không bị đình trệ. Cách xử lý này cho thấy sự linh hoạt và khả năng đồng hành của chính quyền có thể tạo khác biệt trong những thời điểm khó khăn. Niềm tin được hình thành từ trải nghiệm thực tế: Chính sách có thể dự đoán, pháp luật được thực thi nhất quán, dịch vụ công có chất lượng và vướng mắc được giải quyết hiệu quả. Đó là cơ sở để doanh nghiệp đầu tư dài hạn.
Tuy nhiên, tạo thuận lợi không đồng nghĩa buông lỏng quản lý. Theo Trung tướng Trần Vi Dân, Hà Nội cần đánh giá toàn diện hoạt động của doanh nghiệp FDI, chủ động nhận diện vấn đề về lao động, an sinh, môi trường, hạ tầng và các rủi ro kinh tế. Quản lý cần dựa trên chuyên môn, minh bạch và khả năng phòng ngừa từ sớm, vừa tạo điều kiện cho đầu tư hợp pháp, vừa ngăn chặn vi phạm. Bảo đảm an ninh kinh tế còn đòi hỏi bảo vệ sở hữu trí tuệ, bản quyền, công nghệ và lợi ích hợp pháp; vừa cởi mở đón nguồn lực quốc tế, vừa đủ năng lực ngăn chặn hoạt động phi pháp và duy trì cạnh tranh công bằng.
Giữ “thế trận an ninh” để Hà Nội đi xa hơn
Hà Nội trong kỷ nguyên mới cần kết nối nội lực với vốn, công nghệ, tri thức, nhân lực, thị trường và mạng lưới toàn cầu. Quy hoạch mở không gian, hạ tầng tạo điều kiện cho kinh tế, con người tạo sức mạnh nội sinh, công nghệ thúc đẩy năng suất và FDI mở rộng kết nối. Để những nguồn lực ấy tạo giá trị lâu dài, thành phố cần bảo đảm an toàn cho toàn bộ quá trình phát triển.

TS Nguyễn Anh Tuấn và Trung tướng Trần Vi Dân cùng cho rằng, chất lượng FDI cần được đánh giá vượt ra ngoài quy mô vốn và số việc làm, bao gồm khả năng làm chủ công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chất lượng nhân lực, trách nhiệm môi trường, quyền lợi lao động và sức chống chịu của nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi thành phố vừa chủ động xúc tiến, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, vừa chuẩn bị hạ tầng, nhân lực và thể chế; vừa tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư hợp pháp, vừa nâng cao năng lực quản trị, giám sát và phòng ngừa rủi ro. Không thể chỉ chú trọng thu hút vốn mà bỏ qua những điều kiện để nguồn vốn ấy tạo ra giá trị bền vững.
Nghị quyết 02-NQ/TW mở ra tầm nhìn để Hà Nội trở thành trung tâm phát triển có sức cạnh tranh cao, kết nối sâu hơn với khu vực và thế giới. Nghị quyết 22-NQ/TW đặt ra yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia trong bối cảnh nguy cơ ngày càng đan xen, đồng thời nhấn mạnh an ninh phải góp phần kiến tạo nguồn lực và động lực mới cho phát triển. Hai định hướng gặp nhau ở nguyên tắc căn bản: Không đánh đổi an ninh lấy tăng trưởng, nhưng cũng không xem an ninh là rào cản của phát triển. An ninh cần giúp thành phố mở cửa tự tin hơn, lựa chọn sáng suốt hơn và đứng vững trước những biến động khó lường.
Mở cửa nhưng không bị động. Kết nối nhưng không đánh mất thế chủ động. Thu hút nguồn lực nhưng đồng thời xây dựng năng lực tự bảo vệ. Phát triển nhanh nhưng không đánh đổi an ninh lấy tăng trưởng. “Thế trận an ninh” cần hiện diện trong quy hoạch, hạ tầng, cộng đồng dân cư, hệ thống dữ liệu, dòng vốn và công nghệ mới. Từ an ninh con người, an ninh mạng đến quản trị rủi ro đầu tư, mục tiêu chung là giúp Thủ đô phát triển nhanh nhưng vững chắc, mở cửa nhưng chủ động, hiện đại mà vẫn có khả năng tự bảo vệ. Một Thủ đô muốn bứt phá không chỉ cần tầm nhìn đủ xa, nguồn lực đủ lớn hay công nghệ tiên tiến. Thành phố còn cần nền tảng đủ an toàn để đi hết tầm nhìn ấy, biến cơ hội thành năng lực và nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh phát triển lâu dài. Đó chính là “thế trận” để Hà Nội tự tin bước vào kỷ nguyên mới.
