Chuyển đổi xanh không thể dừng ở vài chứng nhận đẹp để truyền thông
Để phát triển bền vững, tạo hiệu quả thực chất, chuyển đổi xanh không nên được nhìn như một khoản chi phí phụ thêm, càng không chỉ là một chứng nhận để làm đẹp thương hiệu.
Với ngành du lịch, “xanh” không chỉ là giảm nhựa, tiết kiệm điện nước hay gắn thêm một chứng nhận vào hồ sơ quảng bá. Đó còn là câu chuyện về cách doanh nghiệp quản trị rủi ro, thiết kế chuỗi cung ứng, bảo vệ tài nguyên điểm đến và tạo lợi ích dài hạn cho cộng đồng địa phương.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Du lịch TP.HCM, ông Nguyễn Công Minh Bảo (còn gọi là Bảo Nguyễn) đồng Sáng lập & Giám đốc Điều hành Green Transition - công ty tư vấn và đào tạo Chuyển đổi Xanh, kiêm đại diện quốc gia của hệ thống chứng nhận Travelife for Tour Operators, cho rằng du lịch Việt Nam đang bước qua giai đoạn chỉ “quan tâm” để bắt đầu những thử nghiệm đầu tiên về phát triển bền vững. Tuy nhiên, để chuyển đổi xanh không rơi vào phong trào hay tẩy xanh, doanh nghiệp cần đi xa hơn các hoạt động bề mặt: phải có hệ thống, dữ liệu, lộ trình và khả năng đo lường tác động.
Tăng trưởng về quan tâm, nhưng khoảng cách hành động vẫn lớn
PV: Từ thực tế tư vấn chuyển đổi xanh của Green Transition, ông đánh giá thị trường du lịch Việt Nam đang ở giai đoạn nào: mới quan tâm, bắt đầu thử nghiệm, hay đã thực sự chuyển đổi?
Ông Bảo Nguyễn: Nếu nhìn tổng thể, tỷ lệ doanh nghiệp du lịch trong nhóm khách hàng tiếp cận các giải pháp ESG hay phát triển bền vững hiện vẫn còn khá nhỏ. Ngành dịch vụ nói chung chưa chịu áp lực bắt buộc phải thay đổi mạnh như một số ngành khác, chẳng hạn tài chính, logistics hay xuất khẩu. Tuy nhiên, xu hướng quan tâm đang tăng rõ. Theo quan sát cá nhân của tôi tại Green Transition, số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch tìm hiểu về phát triển bền vững đã tăng khá nhiều, có thể gần như gấp năm lần so với trước. Điểm đáng chú ý là sự quan tâm này đã bắt đầu chuyển thành hành động.
Trước đây, nhiều bên chỉ tham vấn để tìm hiểu, còn tỷ lệ chuyển sang triển khai rất hiếm. Họ quan tâm, hiểu ở một mức độ nào đó, nhưng chưa hành động. Từ năm nay, số lượng doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn và đã có những đơn vị bắt đầu thực hiện các bước cơ bản.
Áp lực chuyển đổi vẫn chủ yếu đến từ bên ngoài
PV: Đâu là động lực lớn nhất thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch chấp nhận thay đổi ở thời điểm này?
Ông Bảo Nguyễn: Hiện nay, tác động từ thị trường quốc tế và các đối tác B2B vẫn khá rõ. Với các công ty du lịch, khách hàng quốc tế hoặc đối tác quốc tế có thể yêu cầu họ đáp ứng một số tiêu chí nhất định.Các hãng lữ hành ngoại hoặc các chuỗi cung ứng toàn cầu bắt đầu áp các tiêu chí xanh vào bộ tiêu chuẩn chọn đối tác bản địa. Nếu doanh nghiệp của bạn nằm trong chuỗi cung ứng có liên quan đến hàng không, lĩnh vực chịu áp lực giảm phát thải khổng lồ, bạn buộc phải dịch chuyển theo.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng bắt đầu quan tâm hơn. Du khách đã chủ động tìm đến tour net-zero, các resort thân thiện với môi trường hoặc các điểm đến du lịch bền vững. Tuy nhiên, để nhìn thấy thị trường chuyển đổi mạnh trên diện rộng thì vẫn cần thêm thời gian.
Rủi ro từ tư duy làm bền vững kiểu phong trào
PV: Hiện nay, nhiều bên chỉ làm vài hoạt động "xanh" mang tính bề nổi, hướng đến lấy một chứng nhận theo yêu cầu đối tác hoặc đánh bóng thương hiệu. Số khác lại đánh đồng chuyển đổi xanh đơn giản là giảm rác thải nhựa, tiết kiệm điện nước. Ông nhìn nhận thế nào về tư duy này?
Ông Bảo Nguyễn: Thực trạng làm du lịch xanh theo phong trào hiện nay rất phổ biến. Bản chất của chuyển đổi xanh hay ESG không phải là cuộc đua săn tìm chứng nhận để đối phó hay làm truyền thông, mà là chiến lược quản trị rủi ro và kiến tạo lợi thế cạnh tranh.
Nếu chỉ tiếp cận bằng các sáng kiến rời rạc theo kiểu "thấy đối thủ làm gì hay thì làm theo", doanh nghiệp chỉ đang xử lý phần ngọn, tức triệu chứng chứ không giải quyết được phần gốc là nguyên nhân cốt lõi. Muốn đi đường dài, phát triển bền vững phải được tích hợp thẳng vào bộ máy vận hành và chiến lược kinh doanh. Doanh nghiệp cần một hệ thống dữ liệu để tự "khám bệnh": biết mình đang ở đâu, điểm yếu là gì để xây dựng lộ trình ưu tiên phù hợp.
Mặt khác, tư duy chuyển đổi nửa vời sẽ đẩy doanh nghiệp vào hai cái bẫy lớn: lãng phí nguồn lực cho các hoạt động bề nổi thiếu cơ sở khoa học, và rủi ro "tẩy xanh" (greenwashing). Khi công bố thông điệp xanh mang tính cảm tính mà thiếu dữ liệu chứng minh, doanh nghiệp rất dễ bị thị trường phản ứng ngược. Một khi niềm tin bị đổ vỡ, hệ lụy không chỉ dừng lại ở thương hiệu của một vài đơn vị, mà là sự tổn hại hình ảnh ngành du lịch thành phố hay quốc gia.
Hơn nữa, "xanh" không có nghĩa là dừng lại ở việc giảm nhựa hay tiết kiệm điện nước. Đối với ngành du lịch, đây là bài toán đa chiều của cả hệ sinh thái. Đơn cử, về môi trường, nó liên quan đến quản trị nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học như bảo vệ các rạn san hô ở vùng biển đông du khách. Ngoài môi trường, yếu tố xã hội cũng rất quan trọng. Với du lịch, yếu tố xã hội rộng hơn suy nghĩ phổ biến về nhân sự, điều kiện lao động, mà còn là bảo tồn văn hóa bản địa, di sản, chia sẻ lợi ích cộng đồng địa phương.
Doanh nghiệp muốn chuyển đổi xanh bền vững cần thương mại hóa có trách nhiệm, đặt môi trường, xã hội vào trong các quyết định.

Cần thiết xây dựng chuỗi cung ứng du lịch xanh
PV: Nếu đưa ra một chỉ dẫn cụ thể, một doanh nghiệp lữ hành nên bắt đầu từ đâu để "xanh" không chỉ là khẩu hiệu?
Ông Bảo Nguyễn: Một tour du lịch thường liên quan đến ba yếu tố: vận chuyển, điểm đến/ lưu trú và ẩm thực. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ những lựa chọn rất cụ thể trong chuỗi cung ứng. Ví dụ, khi đến một địa phương, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng đồ ăn địa phương, mua sản phẩm địa phương hoặc kết nối dịch vụ với các hộ gia đình tại địa phương. Việc này có thể giúp giảm chi phí logistics, giảm dấu chân carbon, đồng thời tạo lợi ích cho cộng đồng.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải hệ thống hóa. Không phải chỉ đến một lần rồi thôi, mà cần nghĩ đến kết nối lâu dài, lượng khách ổn định và tạo ra lợi ích tương hỗ cho người địa phương. Khi quản lý chuỗi cung ứng tốt hơn, chất lượng dịch vụ cũng tốt hơn. Đây là điều gắn trực tiếp với kinh doanh, không phải chuyện xa xôi.
Sản phẩm xanh giá cao, khách vẫn chọn
PV: Nhiều doanh nghiệp lo rằng các sản phẩm đạt chuẩn "xanh" sẽ khó bán hơn vì chi phí đầu tư cao để đạt được các chứng nhận khắt khe, đào tạo đội ngũ, vận hành.. dẫn đến mức giá bán cao, trong khi tệp khách này cũng đang ở quy mô khá nhỏ. Từ các trường hợp ông từng tư vấn, ông có ví dụ nào cho thấy phát triển bền vững cũng có thể gắn với hiệu quả kinh doanh?
Ông Bảo Nguyễn: Chúng tôi từng tư vấn cho một doanh nghiệp. Khi họ làm tour du lịch bền vững, khối lượng khách giảm khoảng 40%, nhưng lợi nhuận tăng khoảng 60%. Lý do rất rõ ràng là sự gia tăng phân khúc khách hàng cao cấp sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm nguyên bản, hướng về tự nhiên.
Mặt khác, mô hình này giúp tối ưu hóa chi phí. Ví dụ, thay vì dùng ô tô cho một số chặng ngắn, tour có thể dùng xe đạp. Chi phí vận hành giảm, nhưng giá trị trải nghiệm của khách hàng về mặt thể chất và tinh thần lại tăng lên. Đây là một ví dụ cho thấy việc tạo ra các sản phẩm xanh không nhất thiết tiêu tốn chi phí ban đầu lớn. Nếu làm đúng cách, nó có thể gắn với hiệu quả kinh doanh.
Bắt đầu bằng những hành động nhỏ, bài bản, tránh áp lực chi phí
PV: Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, câu chuyện chuyển đổi xanh luôn tạo ra áp lực lớn về ngân sách. Ông có lời khuyên nào để họ bớt áp lực về bài toán "vốn lớn, hoàn vốn lâu"?
Ông Bảo Nguyễn: Nếu vẽ một bức tranh quá rộng ngay từ đầu, doanh nghiệp sẽ sợ hãi trước một khoản đầu tư rất lớn. Tuy nhiên, hành trình này thực tế chỉ cần bắt đầu trước với những bước đi cơ bản. Tôi thường nói đến những “quick-win”, tức những việc thực tế, khả thi và đem lại lợi ích sớm.
Với các điểm lưu trú, đó có thể là tối ưu năng lượng, nước hoặc chi phí vận hành. Những việc này vừa giảm tác động môi trường, vừa giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí. Với công ty lữ hành, một bước có thể là bắt đầu xây dựng và bán thử nghiệm vài dòng tour du lịch bền vững. Không nhất thiết phải chuyển đổi 100% ngay lập tức. Nếu mãi chần chừ, không bắt đầu, doanh nghiệp sẽ chậm chân và không biết thị trường phản ứng thế nào. Chỉ khi thực sự bắt tay triển khai, doanh nghiệp mới có dữ liệu, có phản hồi và dần chuẩn hóa, tối ưu cho các bước tiếp theo.

PV: Vậy còn các dòng vốn xanh, vốn ưu đãi cho dự án chuyển đổi xanh thì sao, thưa ông? Đây có thật sự là một kênh tài chính dễ tiếp cận cho các SMEs hay vẫn cần nhìn nhận thận trọng hơn?
Ông Bảo Nguyễn: Những nguồn vốn đó nghe rất hấp dẫn nhưng không dễ tiếp cận, đặc biệt là với SMEs, vì quy trình, thủ tục hồ sơ phức tạp. Thị trường tín chỉ carbon cũng vậy, tiềm năng nhưng đòi hỏi chuyên môn rất sâu. Doanh nghiệp có thể tìm hiểu để biết xu hướng đang diễn ra, nhưng nếu muốn tham gia thực sự thì cần có đối tác chuyên môn phù hợp để đảm bảo đạt được mục tiêu, tránh mất thời gian và công sức vô nghĩa.
Với tôi, điều quan trọng hơn vẫn là doanh nghiệp bắt đầu từ những việc nằm trong khả năng của mình, tạo ra dữ liệu sạch, từng bước xây dựng hệ thống và nhận được các lợi ích thiết thực.
Cần sự đồng lòng của các doanh nghiệp lớn và chính quyền
PV: Nếu đặt trong vai trò của chính quyền địa phương, nhất là những nơi xem du lịch là ngành kinh tế quan trọng, cần làm gì để chuyển đổi xanh không chỉ là nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp mà trở thành một bài toán quy hoạch điểm đến?
Ông Bảo Nguyễn:Chính quyền có vai trò rất lớn, vì một doanh nghiệp riêng lẻ không thể làm hết mọi thứ. Du lịch bền vững, chuyển đổi xanh đồng bộ là câu chuyện của cả chuỗi cung ứng và cả hệ sinh thái điểm đến.
Chính quyền địa phương phải đóng vai trò kiến tạo thông qua quy hoạch tổng thể. Nếu muốn phát triển một vùng du lịch xanh, địa phương phải tính toán đồng bộ từ hạ tầng giao thông phát thải thấp, hệ thống xử lý nước thải, rác thải, cho đến cơ chế lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng tiêu chuẩn xanh.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dẫn đầu nên tiên phong trở thành những case study thật cho thị trường. Doanh nghiệp không cần phải hoàn hảo ngay, nhưng các mô hình này phải chứng minh bằng dữ liệu, thống kê minh bạch về lộ trình giảm phát thải. Đây sẽ là hình mẫu để các đơn vị khác học hỏi và áp dụng theo đúng quy trình chuyên nghiệp.
PV: Xin cảm ơn ông!











