Chuyển đổi xanh là động lực thúc đẩy năng lực cạnh tranh

Lãnh đạo NordCham, Đại sứ Thụy Điển cùng đại diện các tập đoàn Ericsson, LEGO, Carlsberg, Volvo, ABB, H&M và SKF chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi xanh, số hóa trong sản xuất, đồng thời gợi mở các giải pháp giúp doanh nghiệp Việt nâng cao năng lực cạnh tranh…

Ông Thue Quist Thomasen, Chủ tịch NordCham Việt Nam, chia sẻ tại ội nghị Công nghiệp Xanh 2026. Ảnh: NordCham

Ông Thue Quist Thomasen, Chủ tịch NordCham Việt Nam, chia sẻ tại ội nghị Công nghiệp Xanh 2026. Ảnh: NordCham

Hiệp hội Doanh nghiệp Bắc Âu tại Việt Nam (NordCham) và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổ chức Hội nghị Công nghiệp Xanh 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, với chủ đề “Powering Vietnam's Green Industry 4.0”. Sự kiện thu hút sự tham gia của hơn 200 lãnh đạo từ khu vực nhà nước, doanh nghiệp, tài chính và cộng đồng doanh nghiệp quốc tế.

TỪ YÊU CẦU XANH ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Trong bối cảnh Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU đã bước vào giai đoạn thực thi từ tháng 1/2026, cùng với yêu cầu ESG ngày càng chặt chẽ từ các nhà mua hàng quốc tế, áp lực chuyển đổi đối với sản xuất Việt Nam đang dịch chuyển từ cam kết sang chi phí và hiệu quả vận hành.

Theo ông Thue Quist Thomasen, Chủ tịch NordCham Việt Nam, vấn đề không chỉ nằm ở việc thu hút số lượng lượng vốn FDI vào Việt Nam, mà còn ở chất lượng của dòng vốn và khả năng tạo ra năng lực sản xuất dài hạn.

Việt Nam không chỉ cần nhiều vốn đầu tư hơn, mà thực sự cần vốn đầu tư chất lượng hơn. Đầu tư dài hạn cần đi kèm phát triển năng lực nhà cung cấp trong nước và cải thiện hiệu quả năng lượng, phát thải.

Ông Thue Quist Thomasen Chủ tịch NordCham Việt Nam

Ông Thomasen cũng lưu ý khoảng cách giữa báo cáo ESG và thay đổi thực tế trong hoạt động sản xuất. “Công bố thông tin không đồng nghĩa với khử carbon. Một bản báo cáo phát triển bền vững được viết tốt chưa bao giờ làm giảm chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm hay giành được một đơn hàng nào cả.”

Kinh nghiệm của các doanh nghiệp Bắc Âu cho thấy chuyển đổi xanh đang ngày càng được gắn với bài toán chi phí, năng suất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu, thay vì chỉ được xem là một mục tiêu môi trường.

Dẫn chứng kinh nghiệm của Thụy Điển, Ngài Johan Ndisi, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, chia sẻ trong giai đoạn 1990-2022, nền kinh tế nước này tăng trưởng khoảng 79%, trong khi phát thải khí nhà kính giảm hơn 50%. Theo ông, kết quả này gắn với quá trình đầu tư vào đổi mới sáng tạo và công nghệ sạch.

Ngài Johan Ndisi, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: NordCham

Chuyển đổi xanh không phải là cái giá phải trả cho năng lực cạnh tranh, mà chính là động lực thúc đẩy năng lực cạnh tranh.

Quá trình chuyển đổi xanh đang được một số doanh nghiệp Bắc Âu triển khai ở nhiều khâu của chuỗi sản xuất tại Việt Nam. Cụ thể, Volvo đã chuyển sang cung cấp các dòng xe điện hoàn toàn tại Việt Nam từ năm 2024; ABB tham gia các giải pháp điện khí hóa cảng biển; H&M Group đầu tư hệ thống bơm nhiệt cho các nhà cung cấp; trong khi SKF tập trung vào nâng cao hiệu suất thiết bị công nghiệp.

Tại nhà máy LEGO ở VSIP III, Bình Dương, yếu tố môi trường được đưa vào ngay từ khâu thiết kế. Nhà máy được thiết kế với tuổi thọ trên 50 năm, kết hợp điện mặt trời áp mái với thỏa thuận mua bán điện trực tiếp (DPPA) và hệ thống pin lưu trữ của chủ đầu tư khu công nghiệp.

Ông Jesper Hassellund Mikkelsen, Tổng Giám đốc LEGO Manufacturing Vietnam, cho biết nhà máy hướng tới vận hành bằng 100% điện tái tạo và đã đáp ứng phần lớn nhu cầu điện bằng nguồn năng lượng tái tạo, phần còn lại vẫn lấy từ lưới điện quốc gia.

Trong ngành đồ uống, Carlsberg Việt Nam cũng tiếp cận chuyển đổi xanh từ các yếu tố trực tiếp tác động đến chi phí vận hành. Tại nhà máy ở Huế, doanh nghiệp đã chuyển nguồn nhiệt sang sinh khối và khí sinh học từ năm 2022, đồng thời lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái công suất 2 MW và chuẩn bị cho một dự án DPPA điện gió dự kiến vận hành năm 2028.

Theo ông Peter Wachenschwanz, đại diện Carlsberg Việt Nam, nhà máy hiện tiêu thụ khoảng 2,1 lít nước cho mỗi lít bia và đạt mục tiêu không chất thải chôn lấp từ đầu năm 2026.

Những trường hợp trên cho thấy chuyển đổi xanh trong công nghiệp không chỉ liên quan đến việc thay đổi nguồn năng lượng. Các doanh nghiệp phải đồng thời tính toán hiệu suất sử dụng nước, nguyên liệu, chất thải, thiết bị và khả năng truy xuất dữ liệu trong toàn bộ quá trình sản xuất.

SỐ HÓA ĐỂ ĐO LƯỜNG VÀ CẮT GIẢM CHI PHÍ

Nếu năng lượng và tài nguyên là phần “vật chất” của quá trình chuyển đổi xanh thì dữ liệu đang trở thành lớp hạ tầng giúp doanh nghiệp đo lường và tối ưu hóa quá trình này.

Bà Rita Mokbel, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Ericsson Việt Nam và Myanmar, cho rằng dữ liệu thường là yếu tố bị đánh giá thấp trong quá trình chuyển đổi xanh. “Chúng ta không thể giảm những gì mình không nhìn thấy, không thể tối ưu những gì mình không đo được,” bà Mokbel nói.

Bà Rita Mokbel, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Ericsson Việt Nam và Myanmar. Ảnh: NordCham

Trong nhiều thập kỷ, chúng ta vẫn nói về kinh tế số và kinh tế năng lượng như hai đích đến tách biệt.

Tuy nhiên, với tôi, đó chỉ là một đích đến duy nhất, đó là một nền kinh tế cạnh tranh hơn, sử dụng trí tuệ để làm được nhiều hơn với ít tài nguyên hơn: ít lãng phí, ít carbon, ít năng lượng hơn, nhưng năng suất cao hơn, đổi mới sáng tạo nhiều hơn, bền vững hơn và cuối cùng là tạo ra nhiều giá trị hơn.

Theo bà Mokbel, lợi thế cạnh tranh trong sản xuất đang dần dịch chuyển từ chi phí thấp sang khả năng vận hành thông minh hơn và chứng minh được dấu chân carbon của sản phẩm.

Từ những kinh nghiệm của Ericsson, bà Mokbel dẫn ba trường hợp ứng dụng kết nối và IoT trong sản xuất, logistics hiệu quả:

Thứ nhất, tại cảng Livorno (Italy), việc ứng dụng 5G và IoT đã giúp giảm 8,2% lượng CO2 trên mỗi bến container.

Thứ hai, tại nhà máy 5G của Ericsson ở Texas, kết nối và tự động hóa giúp giảm 25% năng lượng, hơn 75% lượng nước và tăng 120% năng suất theo đầu người.

Thứ ba, tại cảng Tuas gần Singapore, công nghệ 5G cũng được sử dụng cho xe tự hành trong quá trình cảng mở rộng công suất.

Bà Mokbel nhấn mạnh những tài sản tương tự đã tồn tại ở Việt Nam, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào mức độ kết nối và khả năng khai thác dữ liệu. Đồng thời, bản thân hạ tầng số cũng tiêu thụ năng lượng, khiến quá trình số hóa cần được triển khai song song với chuyển đổi sang các nguồn năng lượng sạch.

Thực tế Ericsson đã giảm 41% mức tiêu thụ năng lượng tại các trạm phát sóng tính đến năm 2025, vượt mục tiêu 40% đặt ra năm 2021, và nâng mục tiêu tiếp theo lên 50%. 

Đại diện Ericsson cho biết đã đồng hành cùng hành trình kết nối của Việt Nam suốt nhiều thập kỷ và cam kết tiếp tục vai trò đối tác trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Điểm chung trong các kinh nghiệm được chia sẻ tại hội nghị là chuyển đổi xanh chỉ tạo ra tác động kinh tế nếu vượt qua giai đoạn thử nghiệm và được triển khai ở quy mô lớn.

Điều này đặt ra yêu cầu  với cả doanh nghiệp lẫn các khu công nghiệp, hệ thống năng lượng và hạ tầng số. Trong đó, doanh nghiệp cần tiếp cận được nguồn điện sạch với chi phí hợp lý, có dữ liệu để đo lường phát thải và hiệu suất, đồng thời có khả năng tích hợp các giải pháp mới vào hoạt động sản xuất hiện hữu.

Song song với hội nghị, khu triển lãm Green Industrial Zone giới thiệu các công nghệ và giải pháp phục vụ sản xuất xanh. NordCham cũng công bố chương trình Green Industries Visit 2026, dự kiến diễn ra ngày 30/9, đưa đại biểu tham quan Nhà máy số 2 của Jotun Việt Nam và Khu công nghiệp Long Hậu để tìm hiểu các mô hình sản xuất xanh trong thực tế.

Như Quỳnh

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/chuyen-doi-xanh-la-dong-luc-thuc-day-nang-luc-canh-tranh.htm