Chuyển đổi xanh ở Hải Phòng: Từ nghị quyết đến hành động – phép thử ở năng lực thực thi (Bài 3)

Nghị quyết số 08-NQ/TU đã xác lập tầm nhìn và những mục tiêu lớn cho quá trình chuyển đổi xanh. Kế hoạch triển khai của UBND thành phố tiếp tục cụ thể hóa bằng hàng chục chương trình, nhiệm vụ với nguồn lực dự kiến rất lớn.

Kế hoạch triển khai của UBND thành phố tiếp tục cụ thể hóa bằng hàng chục chương trình, nhiệm vụ với nguồn vốn dự kiến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, phép thử thực sự đặt ra lúc này không nằm ở quy mô dòng tiền hay số lượng đề án, mà ở năng lực tổ chức thực thi: Làm sao để mỗi mục tiêu đều có người chịu trách nhiệm rõ ràng, có tiến độ, sản phẩm và kết quả được định lượng bằng số liệu kiểm chứng.

Phép thử đặt ra lúc này là tổ chức thực hiện thế nào để mỗi mục tiêu có người chịu trách nhiệm, có tiến độ, sản phẩm và kết quả được đo bằng số liệu.

Cát Bà – Phép thử thực tế từ sức chịu tải hệ sinh thái

Sáu tháng đầu năm 2026, Cát Hải đón hơn 2,5 triệu lượt khách, tăng hơn 21% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực đối với kinh tế Cát Hải nhưng đồng thời cũng đặt áp lực lớn lên giao thông, nước thải, chất thải và hệ sinh thái Cát Bà. Nếu nhịp tăng trưởng tiếp tục duy trì, câu hỏi về sức chịu tải của Vịnh Lan Hạ, Vườn quốc gia Cát Bà và hạ tầng trên đảo sẽ ngày càng cấp bách.

Quần thể đảo Cát Bà nhìn từ trên cao.

Quần thể đảo Cát Bà nhìn từ trên cao.

Mỗi chuyến tàu du lịch, mỗi phòng lưu trú và mỗi lượt phương tiện tăng thêm đều đi cùng nhu cầu về nước sạch, năng lượng, giao thông và xử lý chất thải. Nếu năng lực môi trường không tăng tương ứng, chính tài nguyên tạo nên sức hút của Cát Bà có thể bị suy giảm.

Đó là lý do Cát Bà được Nghị quyết số 08-NQ/TU xác định là một trong ba trọng tâm, nền móng của chuyển đổi xanh giai đoạn 2026–2030, bên cạnh giao thông vận tải và công nghiệp. Thành phố yêu cầu kiểm soát sức tải Vịnh Lan Hạ và Vườn quốc gia Cát Bà bằng hệ thống vé điện tử, giám sát hành trình tàu, phân vùng bảo tồn và điều tiết lượng khách; đồng thời áp dụng Bộ tiêu chí xanh cho cơ sở lưu trú, nhà hàng và tàu du lịch.

Tháng 3/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Đặc khu Cát Hải ban hành Nghị quyết số 03-NQ/ĐU, cụ thể hóa yêu cầu chuyển đổi trên đảo. Nghị quyết xác định du lịch sinh thái bền vững là trụ cột, giao thông xanh và môi trường xanh là các khâu đột phá.

Đến năm 2030, Cát Hải đặt mục tiêu 100% xe vận tải du lịch sử dụng điện hoặc năng lượng xanh; 100% điểm du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, túi ni-lông khó phân hủy; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 100%. Lộ trình ưu tiên còn đặt mốc chuyển đổi toàn bộ xe buýt sang xe điện vào năm 2027.

Những mục tiêu này tạo ra một phép thử rất cụ thể: Cát Bà có thể tiếp tục tăng trưởng du lịch mà không vượt quá giới hạn của hệ sinh thái hay không?

Không chỉ Cát Bà, toàn bộ chương trình chuyển đổi xanh của Hải Phòng đang bước vào giai đoạn phải định lượng trách nhiệm và nguồn lực.

Theo Kế hoạch số 133/KH-UBND, tổng kinh phí dự kiến thực hiện các chương trình, nhiệm vụ chuyển đổi xanh giai đoạn 2026–2030 là hơn 256.052 tỷ đồng. Trong đó, phần kinh phí dự kiến thực hiện trực tiếp Nghị quyết số 08-NQ/TU khoảng 138.099 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp chiếm phần lớn.

Đây là quy mô nguồn lực rất lớn. Nhưng bản thân con số đầu tư không bảo đảm kết quả xanh.

Một dự án xử lý chất thải chỉ có ý nghĩa khi công nghệ phù hợp, chất thải được phân loại từ nguồn và hệ thống thu gom vận hành đồng bộ. Một chương trình xe điện sẽ không đạt hiệu quả nếu thiếu trạm sạc, năng lực cung cấp điện hoặc cơ chế xử lý pin sau sử dụng. Một khu đô thị gắn nhãn xanh nhưng vẫn phụ thuộc vào xe cá nhân, thiếu xử lý nước thải và thường xuyên ngập úng thì chưa thể được coi là mô hình chuyển đổi.

Hải Phòng có nhiều cảng biển lớn.

Hải Phòng có nhiều cảng biển lớn.

Kế hoạch của thành phố yêu cầu tổ chức thực hiện theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra và đánh giá tiến độ.

Điểm đáng chú ý là nhiều nhiệm vụ đã được gắn với mốc thời gian gần, không phải chỉ đặt đích đến năm 2030.

Đối với hệ thống xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên đảo Cát Bà, Kế hoạch số 133 đặt yêu cầu phê duyệt dự án trong tháng 12/2026, triển khai đầu tư để đưa vào vận hành theo lộ trình tiếp theo. Thành phố dự kiến bố trí khoảng 400 tỷ đồng vốn đầu tư công cho nhiệm vụ này.

Các nhiệm vụ khác gồm xây dựng hệ thống kiểm soát sức tải du lịch, nền tảng quản lý điểm đến thông minh, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi rạn san hô và đầu tư hệ thống thoát nước, xử lý nước thải. Mô hình chuyển đổi xanh tổng thể trên đảo được dự kiến nguồn lực khoảng 200 tỷ đồng và hoàn thành vào năm 2030.

Như vậy, ngay từ cuối năm 2026, việc phê duyệt dự án chất thải rắn, xây dựng cơ chế triển khai và chuẩn bị lộ trình xe buýt điện sẽ là những chỉ dấu đầu tiên để đánh giá tiến độ.

Tại Bát Bà, tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TU đã được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 03-NQ/ĐU của Đảng bộ đặc khu Cát Hải. Địa phương xác định chuyển đổi xanh là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; lấy du lịch sinh thái bền vững làm trụ cột, giao thông xanh và môi trường xanh làm khâu đột phá. 

Mục tiêu đến năm 2030 bao gồm chuyển đổi phương tiện vận tải du lịch sang năng lượng xanh, giảm nhựa dùng một lần, xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nền tảng quản lý điểm đến thông minh, kiểm soát sức tải Vịnh Lan Hạ, bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi rạn san hô. Đặc khu đặt lộ trình chuyển đổi toàn bộ xe buýt sang xe điện vào năm 2027. 

Những nhiệm vụ này cho thấy Cát Bà không thể “xanh” chỉ bằng xe điện hoặc chiến dịch hạn chế túi ni-lông. Bài toán lớn hơn là kiểm soát số lượng tàu và du khách, mật độ xây dựng, nước thải, rác thải và áp lực lên hệ sinh thái.

Nguồn thu từ du lịch cũng phải tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn và sinh kế cộng đồng. Người dân địa phương cần được tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chí xanh, phát triển sản phẩm du lịch và giám sát tác động môi trường, thay vì chỉ là đối tượng thực hiện các quy định được ban hành.

Có thể thấy, tính thời sự của Nghị quyết số 08-NQ/TU không chỉ dừng lại ở việc nghị quyết mới được ban hành mà nằm ở chỗ các mốc thực hiện đầu tiên đang đến gần.

Năng lực tổ chức thực hiện không chỉ dừng lại vấn đề phân công công việc mà phụ thuộc trực tiếp vào thể chế, hạ tầng và con người.

PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế Trường Đại học Thành Đông – Hải Phòng, nhận diện ba điểm nghẽn có tính cấu trúc của môi trường đầu tư công nghiệp khu vực Bắc Bộ: thể chế còn phân mảnh và thiếu khả năng dự báo; hạ tầng thiếu đồng bộ giữa trong và ngoài khu công nghiệp; nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu của công nghiệp thế hệ mới.

Ba điểm nghẽn này tương tác với nhau, cùng làm tăng chi phí giao dịch, chi phí logistics, chi phí đào tạo lại và mức độ bất định của nhà đầu tư.

Đối với chuyển đổi xanh, điểm nghẽn thể chế có thể xuất hiện khi một dự án phải đồng thời đi qua các thủ tục về đất đai, xây dựng, môi trường, năng lượng, phòng cháy, đấu nối và tín dụng. Nếu mỗi thủ tục có một đầu mối, một cách hiểu và một tiến độ khác nhau, doanh nghiệp sẽ chịu thêm chi phí chờ đợi và rủi ro.

Điểm nghẽn hạ tầng không chỉ là thiếu đường hoặc thiếu điện. Công nghiệp xanh cần điện chất lượng cao và năng lượng sạch; kinh tế tuần hoàn cần logistics ngược và hạ tầng tái chế; cảng xanh cần cấp điện bờ, dữ liệu dùng chung và kết nối đa phương thức; đô thị xanh cần giao thông công cộng, thoát nước và xử lý nước thải.

Nguồn nhân lực cũng không thể được chuẩn bị sau khi dự án đã hình thành. Hải Phòng cần kỹ sư năng lượng, chuyên gia môi trường, nhân sự kiểm kê carbon, kỹ thuật viên tự động hóa, chuyên gia dữ liệu và đội ngũ quản lý hiểu các tiêu chuẩn quốc tế.

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, ba nhóm giải pháp phải được thực hiện đồng thời: cải cách thể chế theo hướng liên thông, minh bạch và dự báo được; phát triển hạ tầng theo logic chuỗi và liên kết vùng; xây dựng hệ sinh thái nhân lực gắn với nhu cầu doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Bích Dung đề xuất nghiên cứu cơ chế “luồng xanh hành chính” dành cho các dự án cam kết chuyển đổi xanh hoặc đạt chứng chỉ ESG quốc tế.

Cơ chế này chỉ thực sự có ý nghĩa khi “luồng xanh” không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn. Quy trình có thể nhanh hơn, nhưng tiêu chí phải rõ hơn; hồ sơ phải minh bạch hơn; dữ liệu phải đầy đủ hơn và trách nhiệm xử lý phải được xác định cụ thể.

Cùng với đó, việc lựa chọn dự án đầu tư phải thay đổi. Không thể dùng nguồn lực lớn để hỗ trợ những dự án chỉ mang tên gọi xanh nhưng không chứng minh được kết quả.

Cảng xanh cần được đánh giá bằng phát thải trên mỗi đơn vị hàng hóa, thời gian tàu và xe chờ, tỷ lệ thiết bị điện hóa và mức tiêu thụ năng lượng. Khu công nghiệp sinh thái phải được đo bằng lượng nước tái sử dụng, phụ phẩm được trao đổi, năng lượng tiết kiệm và chi phí giảm được. Cát Bà xanh phải được đo bằng chất lượng nước, lượng rác, mật độ khách, sức khỏe của hệ sinh thái và lợi ích quay trở lại cộng đồng.

Một hệ thống chỉ tiêu như vậy cũng cần được công khai ở mức phù hợp. Người dân phải có thông tin để giám sát chất lượng môi trường; doanh nghiệp cần dữ liệu để điều chỉnh hoạt động; cơ quan quản lý cần cơ sở để đánh giá tiến độ và phân bổ nguồn lực.

Nghị quyết số 08-NQ/TU đã xác định rõ hướng đi: chuyển đổi xanh là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt; kinh tế tuần hoàn là động lực; cảng xanh là đột phá chiến lược.

Quyết tâm của Hải Phòng sẽ không chỉ được đo bằng số tiền dự kiến đầu tư, số đề án được ban hành hay số dự án có chữ “xanh” trong tên gọi. Nó sẽ được đo bằng từng tấn phát thải được cắt giảm, từng mét khối nước được tái sử dụng, từng giờ chờ được rút ngắn, từng dòng chất thải trở lại sản xuất và từng giá trị sinh thái được gìn giữ. 

Khi những chỉ số trên được công khai minh bạch, người dân sẽ có cơ sở giám sát chất lượng môi trường; doanh nghiệp có dữ liệu để tối ưu hóa vận hành; và cơ quan quản lý có căn cứ chính xác để đánh giá tiến độ, phân bổ nguồn lực. Khi đó, "chuyển đổi xanh" không còn là một khẩu hiệu phong trào, mà thực sự trở thành năng lực phát triển nội tại và lợi thế cạnh tranh mới của Hải Phòng.

Chỉ khi chuyển đổi xanh trở thành tiêu chuẩn bắt buộc trong lựa chọn đầu tư, vận hành cảng biển, tổ chức sản xuất công nghiệp, phát triển đô thị, quản lý du lịch và thói quen sinh hoạt của cộng đồng, Nghị quyết số 08-NQ/TU mới thực sự đi vào cuộc sống một cách vững chắc và lâu dài.

KHI "XANH" TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC VÀ LỢI THẾ CẠNH TRANH MỚI

Xuyên suốt 3 kỳ của tuyến bài, chúng ta đã đi qua trọn vẹn hành trình chuyển đổi xanh của Hải Phòng: Từ khát vọng và tầm nhìn chiến lược được xác lập trong Nghị quyết số 08-NQ/TU; đến sự định hình của các trụ cột động lực như cảng xanh, công nghiệp sinh thái, giao thông xanh và du lịch bền vững; để rồi dừng lại ở phép thử khắt khe nhất – năng lực tổ chức thực thi.

Chuyển đổi xanh không phải là một chiến dịch ngắn hạn, cũng không dừng lại ở những khẩu hiệu hay cam kết trên giấy. Đó là một cuộc cách mạng trong tư duy phát triển, đòi hỏi sự đánh đổi, kỷ cương hành chính và nguồn lực tổ chức triển khai vô cùng khắt khe. Lời giải cho Hải Phòng không chỉ nằm ở quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng dự kiến đầu tư, mà nằm ở tinh thần "6 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền), ở sự kiên quyết tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế – hạ tầng – nhân lực, và ở sự dũng cảm từ chối những dự án mang danh nghĩa "xanh" nhưng thiếu kết quả định lượng.

Cảng xanh Hải Phòng, khu công nghiệp sinh thái hay quần đảo Cát Bà bền vững... không chỉ là những mô hình đơn lẻ. Tổng hòa của những mảnh ghép ấy sẽ định hình nên diện mạo mới của một Thành phố Cảng xanh, hiện đại và văn minh – nơi tăng trưởng kinh tế hòa hợp với sức chịu tải của môi trường, nơi lợi ích của doanh nghiệp gắn liền với sinh kế bền vững của cộng đồng.

Khi từng tấn phát thải carbon được cắt giảm, từng mét khối nước thải được tuần hoàn, từng giờ chờ tại cảng biển được rút ngắn và từng hệ sinh thái được gìn giữ, khi đó "xanh" không còn là rào cản chi phí, mà chính thức trở thành năng lực phát triển nội tại và tấm hộ chiếu cạnh tranh toàn cầu của Hải Phòng trong kỷ nguyên mới.

Huy Tưởng - Lan Chi

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/chuyen-doi-xanh-o-hai-phong-tu-nghi-quyet-den-hanh-dong-phep-thu-o-nang-luc-thuc-thi-bai-3-117457.html