Chuyên gia đề xuất hàng loạt ưu đãi cho phương tiện giao thông xanh
Các đô thị lớn như Hà Nội hoàn toàn có thể chủ động áp dụng những biện pháp khuyến khích, như ưu đãi phí đăng ký, phí đỗ xe, lệ phí trước bạ cho phương tiện xanh; đồng thời tăng chi phí và hạn chế với xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch...
Ưu đãi mạnh xe nhiên liệu sạch và phát triển giao thông công cộng
Ngày 6/1, tại Tọa đàm Các giải pháp thúc đẩy giao thông xanh và giao thông công cộng tại Hà Nội, TS Khuất Việt Hùng, Chủ tịch Hội đồng Thànhh viên Hà Nội Metro cho biết, hiện nay, tỷ trọng vận tải công cộng ở Việt Nam còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Vậy đâu là giải pháp để khuyến khích người dân sử dụng vận tải công cộng, tiến tới nâng tỷ lệ ngang bằng khu vực, qua đó góp phần giảm ô nhiễm môi trường?
TS Khuất Việt Hùng cho rằng, các chủ trương, quy hoạch và giải pháp về giao thông đô thị thực tế đã khá đầy đủ. Hà Nội đã có quy hoạch 15 tuyến đường sắt đô thị, hệ thống xe buýt với khoảng 4.000 phương tiện và đang từng bước chuyển đổi sang xe điện. Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải “có giải pháp hay không”, mà là “thực hiện như thế nào” và “đâu là điểm đột phá”.
Theo ông, mốc 1/7/2026 – thời điểm triển khai vùng phát thải thấp – sẽ là bước ngoặt quan trọng. Khi vùng phát thải thấp được áp dụng nghiêm túc, người dân buộc phải cân nhắc lại lựa chọn đi lại, trong bối cảnh hạ tầng đường bộ không thể mở rộng thêm, ùn tắc và ô nhiễm đã tiệm cận ngưỡng chịu đựng.

TS Khuất Việt Hùng cho rằng giảm dần phương tiện cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch là yêu cầu tất yếu.
Theo TS Khuất Việt Hùng, giảm dần phương tiện cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch là yêu cầu tất yếu. Khi các rào cản được thiết lập rõ ràng, vận tải công cộng sẽ trở thành lựa chọn hợp lý hơn. Thực tế cho thấy, xe buýt và các phương thức vận tải công cộng hiện nay mới đông vào giờ cao điểm, còn nhiều dư địa khai thác ở các khung giờ khác.
Để đạt được mục tiêu này, vai trò của thực thi pháp luật là rất quan trọng. Các quy định, chế tài đã có, vấn đề là thực hiện nghiêm và đồng bộ, như kinh nghiệm từ việc xử lý vi phạm nồng độ cồn trong giao thông thời gian qua.
TS Khuất Việt Hùng nhấn mạnh, nếu các địa phương kiên trì thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết 57, các chỉ đạo của Chính phủ và kế hoạch phát triển giao thông đô thị, tỷ lệ người dân sử dụng vận tải công cộng chắc chắn sẽ tăng rõ rệt. Giai đoạn đầu có thể còn khó khăn, nhưng dần dần sẽ hình thành thói quen và văn hóa giao thông mới, tương tự như việc đội mũ bảo hiểm hay “đã uống rượu bia thì không lái xe”.
Ông Nguyễn Đăng Quang, Phó Tổng Giám đốc Omoda & Jaecoo Việt Nam cho rằng, trong nhiều năm qua, phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe chạy xăng, đã phát triển quá nhanh, trong khi thói quen sử dụng giao thông công cộng chưa được duy trì và mở rộng. Thực tế cho thấy, chúng ta không thiếu giải pháp, không thiếu hành lang pháp lý, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là quyết tâm thực hiện và triển khai đến nơi đến chốn.

Mạng lưới metro, xe buýt cần được mở rộng, kết nối thuận tiện với khu dân cư; hạ tầng đi bộ, xe đạp phải an toàn, có làn riêng.
"Quá trình chuyển đổi này chắc chắn không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh hạ tầng đô thị còn hạn chế. Việc thúc đẩy xe điện, xe thân thiện môi trường đang gặp nhiều rào cản, điển hình là thiếu hạ tầng sạc tại khu dân cư, chung cư. Điều đó cho thấy, chuyển đổi phương tiện cá nhân nếu tách rời phát triển giao thông công cộng sẽ rất khó thành công", ông Nguyễn Đăng Quang nhận định.
Ông Quang đề xuất, muốn người dân giảm sử dụng xe cá nhân, chuyển sang giao thông công cộng, chính sách phải đủ mạnh và đủ hấp dẫn. Các đô thị lớn như Hà Nội hoàn toàn có thể chủ động áp dụng những biện pháp khuyến khích, như ưu đãi phí đăng ký, phí đỗ xe, lệ phí trước bạ cho phương tiện xanh; đồng thời tăng chi phí và hạn chế với xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch, tương tự kinh nghiệm của nhiều thành phố lớn trên thế giới.
Quan trọng hơn, phát triển giao thông công cộng phải đi trước một bước. Mạng lưới metro, xe buýt cần được mở rộng, kết nối thuận tiện với khu dân cư; hạ tầng đi bộ, xe đạp phải an toàn, có làn riêng, môi trường đô thị đủ sạch và dễ chịu để người dân sẵn sàng thay đổi thói quen. Khi giao thông công cộng thuận tiện, đúng giờ, dễ tiếp cận, người dân sẽ tự khắc lựa chọn.
Phát triển giao thông công cộng cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược chuyển đổi xanh. Xe điện, xe hybrid chỉ là một phần giải pháp. Yếu tố quyết định vẫn là chính sách đủ mạnh, hạ tầng đồng bộ và quyết tâm thực thi, để người dân thấy rõ lợi ích khi thay đổi cách đi lại hằng ngày.
Phát triển đồng bộ nhiều giải pháp
PGS.TS Nguyễn Đức Lượng (Trường Đại học Xây dựng) chia sẻ kinh nghiệm triển khai giao thông xanh tại một số quốc gia trong khu vực, cũng như khả năng vận dụng những kinh nghiệm đó vào điều kiện thực tế của Hà Nội.
PGS.TS Nguyễn Đức Lượng cho biết, qua theo dõi và so sánh, có thể thấy nhiều quốc gia Đông Nam Á có điều kiện phát triển hạ tầng và cấu trúc đô thị khá tương đồng với Hà Nội. Vì vậy, các giải pháp về phát triển giao thông và kiểm soát phát thải từ hoạt động giao thông cũng có nhiều điểm chung.
Kinh nghiệm nổi bật của các nước trong khu vực và trên thế giới là ưu tiên phát triển mạnh mẽ hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt là các tuyến tàu điện đô thị và xe buýt. Đây được xem là giải pháp chiến lược nhằm giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân – nguyên nhân chính gây ùn tắc và ô nhiễm tại các đô thị lớn.
Theo ông, để người dân thực sự chuyển sang sử dụng giao thông công cộng, yếu tố then chốt là khả năng tiếp cận và mức độ thuận tiện của hệ thống. Nếu việc tiếp cận các nhà ga, trạm dừng còn bất tiện, thiếu kết nối, người dân dù có ý thức bảo vệ môi trường cũng khó thay đổi thói quen đi lại.
Song song với giao thông công cộng, việc phát triển hệ thống giao thông phi cơ giới như đi bộ, xe đạp và tích hợp các loại hình này với mạng lưới vận tải công cộng cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi hành vi đi lại của người dân.
PGS.TS Nguyễn Đức Lượng cũng nhấn mạnh, nhận thức của người dân về ô nhiễm không khí đã được cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây. Tuy nhiên, để chuyển nhận thức thành hành động, cần duy trì thường xuyên các hoạt động truyền thông, nâng cao ý thức cộng đồng.
Ngoài ra, mô hình vùng phát thải thấp (LEZ) đang được nhiều thành phố trong khu vực thí điểm và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm bụi mịn PM2.5 và khí NO₂. Đây là giải pháp Hà Nội có thể tiếp tục nghiên cứu, triển khai đồng bộ cùng các quy chuẩn khí thải và hệ thống kiểm soát, dữ liệu đăng kiểm, phát thải.
Theo ông, để các giải pháp phát huy hiệu quả, điều quan trọng là phải triển khai đồng thời, đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, từ hạ tầng, chính sách đến quản lý và giám sát, thay vì thực hiện rời rạc, đơn lẻ.
TS. Nguyễn Hữu Tiến – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, trong Quyết định số 876 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia, nhiều giải pháp đã được đặt ra nhằm thúc đẩy chuyển đổi giao thông xanh. Vậy những giải pháp này sẽ hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong phát triển giao thông thân thiện môi trường, đặc biệt là giao thông công cộng?
Theo ông, thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế xanh và cam kết phát thải ròng bằng "0", Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 876 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải. Đây là văn bản có tính tổng thể, lần đầu tiên đặt ra một lộ trình dài hạn ở tầm quốc gia, với các mốc đến năm 2025, 2030, 2040 và 2045, kèm theo hệ thống nhiệm vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương.
Quyết định 876 không chỉ định hướng chính sách mà còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương xây dựng kế hoạch và lộ trình chuyển đổi phù hợp với điều kiện thực tế. Từ khâu sản xuất, sử dụng phương tiện đến cơ chế khuyến khích người dân chuyển đổi sang phương tiện giao thông xanh, tất cả đều được đặt trong một tổng thể thống nhất.
Theo TS. Nguyễn Hữu Tiến, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là hai địa phương đi đầu trong xây dựng kế hoạch và lộ trình chuyển đổi giao thông xanh, thậm chí một số mục tiêu còn được đặt ra sớm hơn so với lộ trình quốc gia. Điều này thể hiện rõ quyết tâm của các đô thị lớn trong việc giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện chất lượng không khí và thích ứng với xu thế phát triển bền vững của thế giới.
Trong tổng thể các giải pháp, giao thông công cộng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Không chỉ góp phần giảm phát thải và ô nhiễm không khí, giao thông công cộng còn là công cụ hiệu quả để tổ chức lại không gian đô thị, giảm ùn tắc, nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ môi trường và hướng tới mô hình phát triển đô thị xanh, bền vững.












