Chuyển hóa di sản thành nguồn lực phát triển

Từ đổi mới quản lý, số hóa di tích đến phát triển du lịch trải nghiệm, kết nối làng nghề với thị trường, các địa phương tại Hà Nội đang từng bước chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực phát triển.

Trên địa bàn phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) có nhiều di tích được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt, cấp quốc gia và cấp thành phố, cùng 9 lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm như lễ hội đền Kim Liên, đình Trung Tự, đình Linh Quang…

Những giá trị văn hóa, lịch sử này thu hút đông đảo người dân và du khách, tạo tiềm năng để địa phương phát triển du lịch gắn với di sản. Khi được khai thác phù hợp, lượng khách không chỉ góp phần lan tỏa giá trị di tích mà còn mở thêm cơ hội việc làm, kinh doanh dịch vụ cho người dân, đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương.

Phó Chủ tịch UBND phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám Vũ Đức Tuyên cho biết, địa phương xác định nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và di tích là nhiệm vụ quan trọng; trong đó, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử cần gắn với xây dựng đời sống văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội.

Một trong những hướng đi đáng chú ý là đổi mới cách quản lý, phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Thăng Long tứ trấn - Đền Kim Liên. Từ việc nghiên cứu lịch sử, hoa văn, họa tiết đặc trưng, phường đã xây dựng bộ nhận diện riêng và phát triển 5 nhóm sản phẩm văn hóa, quà tặng lưu niệm, gồm dây ước nguyện, thẻ kim bài Trấn Nam Thăng Long, đĩa men rạn lấy cảm hứng từ kiến trúc nhà Phương Đình, cờ ngũ sắc “Trấn Nam” và cốc uống nước in hình ảnh cách điệu của đền.

Phó Chủ tịch UBND phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám Vũ Đức Tuyên chia sẻ thông tin. Ảnh: Lê Dung

Phó Chủ tịch UBND phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám Vũ Đức Tuyên chia sẻ thông tin. Ảnh: Lê Dung

Cùng với phát triển sản phẩm, công tác kiểm kê, bổ cập hồ sơ khoa học di tích được duy trì thường xuyên. Phường xây dựng phòng tiếp khách, nhà trưng bày, phòng chiếu phim và sản xuất các sản phẩm truyền thông giới thiệu giá trị lịch sử, văn hóa của di tích. Đáng chú ý, Đền Kim Liên đã được số hóa bằng công nghệ 360 độ, tích hợp hình ảnh, âm thanh và mã QR giúp du khách thuận tiện tra cứu thông tin.

Đền Kim Liên không chỉ là nơi thờ tự mà còn trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng tại địa phương. Ảnh: PV.

Đền Kim Liên không chỉ là nơi thờ tự mà còn trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng tại địa phương. Ảnh: PV.

Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phường tiếp tục phối hợp cập nhật dữ liệu, hoàn thiện không gian số, hướng tới tích hợp nền tảng dữ liệu đồng bộ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích. Địa phương cũng phối hợp nghiên cứu Đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích Đền Kim Liên giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045.

Không chỉ đổi mới phương thức quản lý, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn đưa di sản đến gần công chúng thông qua các phiên livestream quảng bá sản phẩm, danh thắng và nét văn hóa đặc trưng. Tại Hồ Văn, thuộc quần thể di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, người xem được khám phá không gian văn hóa gắn với truyền thống hiếu học của Thủ đô, đồng thời thưởng thức các tiết mục nghệ thuật dân gian.

Làm việc ở đây, nghệ nhân Phạm Công Bằng, Trưởng phường Rối Tế Tiêu, bày tỏ niềm vui khi nghệ thuật rối cạn có thêm cơ hội được giới thiệu rộng rãi. Theo ông, những phiên livestream không chỉ giúp quảng bá nghệ thuật truyền thống mà còn đưa các tiết mục dân gian đến gần học sinh, giúp thế hệ trẻ hiểu và thêm yêu giá trị văn hóa quê hương.

“Những buổi livestream rất bổ ích cho các phường rối dân gian, để mang nét đẹp quê hương đến với đồng bào cả nước cũng như nhân dân Thủ đô, nhất là các em học sinh”, nghệ nhân Phạm Công Bằng chia sẻ.

Theo chị Nguyễn Ngọc Mai (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám), việc giới thiệu sản phẩm truyền thống qua mạng xã hội giúp người dân ở xa dễ dàng tìm hiểu, đặt mua, qua đó mở rộng cơ hội quảng bá sản phẩm quê hương và đưa giá trị truyền thống đến gần hơn với người trẻ.

Nếu ở phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công nghệ và sản phẩm văn hóa mở rộng cách tiếp cận di tích thì tại xã Dân Hòa, việc kết nối di sản với du lịch trải nghiệm đang tạo thêm hướng đi cho các làng nghề truyền thống. Không chỉ nổi tiếng với nghề làm giò chả, làng Ước Lễ còn lưu giữ hệ thống công trình kiến trúc, sắc phong, phong tục và những câu chuyện dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Ông Nguyễn Văn Mùi, 74 tuổi, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Ước Lễ, chia sẻ, căn cứ vào những sắc phong còn lưu giữ, trong đó có sắc phong cổ năm 1670, có thể thấy đình làng đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước. Hiện làng còn giữ được 9 sắc phong cổ. Hằng năm, người dân duy trì hai kỳ lễ tại đình vào ngày 12-3 và 12-8 âm lịch, gửi gắm mong ước về cuộc sống bình an, no đủ.

Cổng làng Ước Lễ đẹp cổ kính, trường tồn với thời gian. Ảnh: Lê Dung

Cổng làng Ước Lễ đẹp cổ kính, trường tồn với thời gian. Ảnh: Lê Dung

Đình Ước Lễ còn gây ấn tượng bởi kiến trúc với dãy 15 cột thẳng hàng từ cột hiên đến hậu cung, cùng hai khoảng giếng trời tại tả mạc và hữu mạc. Cổng làng xây theo kiểu vòm cuốn, mái cong, bằng gạch chỉ nung đỏ, phía trên đắp nổi dòng chữ “Ước Lễ môn”. Theo các bậc cao niên, làng từng được vua Tự Đức ban tặng bốn chữ “Mỹ tục khả phong”, ghi nhận những phong tục, nếp sống tốt đẹp của cộng đồng.

“Chỗ nào có chợ là chỗ ấy có người Ước Lễ”

Ông Nguyễn Văn Mùi ví sự lan tỏa của người Ước Lễ và nghề truyền thống qua nhiều thế hệ.

Những câu chuyện về đình làng, cổng làng, hoành phi, câu đối và nhân vật lịch sử như Tể tướng Lữ Gia vẫn được các bậc cao niên tìm hiểu, gìn giữ, giới thiệu cho lớp trẻ. Nếu những công trình và sắc phong lưu giữ ký ức quá khứ thì nghề giò chả lại tạo nên sức sống của Ước Lễ trong đời sống hôm nay.

Ông Nguyễn Văn Mùi, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Ước Lễ kể chuyện làng. Ảnh: Lê Dung

Ông Nguyễn Văn Mùi, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Ước Lễ kể chuyện làng. Ảnh: Lê Dung

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Dân Hòa Mai Xuân Trường cho biết, địa phương hiện có 91 di tích, trong đó có 52 di tích cấp quốc gia và cấp thành phố; cùng nhiều làng nghề truyền thống như giò chả Ước Lễ, nón lá Tri Lễ, tạc tượng Vũ Lăng, làm lồng chim Canh Hoạch… Xã chú trọng kết nối các giá trị này với hoạt động trải nghiệm, quảng bá văn hóa địa phương. Tiêu biểu là chương trình “Tết lại” tổ chức tại Ước Lễ mỗi dịp mùa xuân, đưa người dân và du khách trở về không gian làng quê với mái đình, chợ quê và các nghề truyền thống.

Phó Chủ tịch UBND xã Dân Hòa Hoàng Thị Kim Thanh cho biết, làng nón Tri Lễ đã trở thành điểm đến để du khách quốc tế trải nghiệm làm nghề cùng người dân; trong khi giò chả Ước Lễ là nét văn hóa ẩm thực đặc sắc, có khả năng quảng bá hình ảnh địa phương.

Đáng chú ý, xã phối hợp với Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai dự án TRILAF nhằm phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam. Dự án tập trung bảo tồn nghề làm nón Tri Lễ, khuyến khích người dân, nhất là phụ nữ và thanh niên, tham gia phát triển du lịch cộng đồng.

Một góc đình Ước Lễ hiện nay. Ảnh: Lê Dung

Một góc đình Ước Lễ hiện nay. Ảnh: Lê Dung

Ước Lễ sở hữu một hệ thống di sản độc đáo. Ảnh: Lê Dung

Ước Lễ sở hữu một hệ thống di sản độc đáo. Ảnh: Lê Dung

Qua các chương trình trải nghiệm, học sinh, sinh viên và du khách nước ngoài được tìm hiểu từng công đoạn làm nón, giao lưu với nghệ nhân, nghe kể chuyện về nghề. Người dân cũng từng bước nâng cao kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh, tiếng Pháp để phục vụ khách tham quan.

Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội Lâm Quang Đông, dự án đã hình thành phòng truyền thống làng nghề với nội dung đa ngôn ngữ, đón hơn 300 lượt khách; có hơn 200 sinh viên đồng hành trong trên 10 hoạt động; thử nghiệm 6 tour trải nghiệm, xây dựng 21 sản phẩm truyền thông số và kết nối với 5 doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội.

Đáng chú ý, ba hộ gia đình trực tiếp tham gia đón khách; nghệ nhân, phụ nữ và thanh niên địa phương ngày càng tích cực tham gia hoạt động du lịch. Hơn 500 lượt giáo viên, sinh viên của nhà trường tham gia biên, phiên dịch, xây dựng nội dung đa ngôn ngữ và tổ chức trải nghiệm.

Nhà truyền thống làng nghề nón lá Tri Lễ của xã Dân Hòa đi vào hoạt động từ tháng 6-2026, thu hút nhiều lượt khách trong nước, quốc tế. Ảnh: Lê Dung

Nhà truyền thống làng nghề nón lá Tri Lễ của xã Dân Hòa đi vào hoạt động từ tháng 6-2026, thu hút nhiều lượt khách trong nước, quốc tế. Ảnh: Lê Dung

Là một trong những hộ dân tham gia dự án, bà Vũ Thị Huyền (xã Dân Hòa) cho biết, trước đây, những chiếc nón chủ yếu được làm ra để bán, người dân chưa nghĩ nghề truyền thống có thể trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch. Qua dự án, bà con được hướng dẫn cách quảng bá làng nghề, giới thiệu sản phẩm và tổ chức hoạt động trải nghiệm.

“Điều ý nghĩa nhất là dự án giúp người dân thêm tự hào về nghề của quê hương, đồng thời nhận thấy hướng đi mới để vừa bảo tồn nghề, vừa nâng cao thu nhập”, bà Vũ Thị Huyền chia sẻ.

Với hơn một nghìn năm lịch sử, Hà Nội sở hữu hệ thống di sản văn hóa phong phú, nhiều di tích, cụm di tích quốc gia đặc biệt, khoảng 1.200 di tích cấp quốc gia, hàng nghìn di tích cấp thành phố và bảo vật quốc gia. Nhiều di sản của Thủ đô đã được UNESCO ghi danh, góp phần khẳng định chiều sâu văn hóa và sức hấp dẫn của Thăng Long - Hà Nội.

Các mô hình tại một số địa phương cho thấy, phát huy giá trị di sản cần bắt đầu từ những cách làm cụ thể. Khi di sản được gìn giữ bằng trách nhiệm, lan tỏa bằng công nghệ và chuyển hóa thành sinh kế, những giá trị của quá khứ sẽ không chỉ nằm trong ký ức mà tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay, trở thành nguồn lực nội sinh góp phần phát triển kinh tế, xây dựng Thủ đô phát triển bền vững.

Dự án TRILAF phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam. Ảnh: TRILAF

Dự án TRILAF phát triển du lịch cộng đồng và bảo tồn làng nghề truyền thống gắn với cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam. Ảnh: TRILAF

Bài viết và trình bày: Lê Dung

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/chuyen-hoa-di-san-thanh-nguon-luc-phat-trien-1764310.html