Chuyện ít biết về vị tướng đứng sau thế trận bí mật của Biệt động Sài Gòn
Từ những hầm vũ khí, mạng lưới cơ sở bí mật đến các trận đánh trung tâm Sài Gòn thập niên 60, Thiếu tướng Trần Hải Phụng dành cuộc đời cho một chiến trường đặc biệt.
Bà Trần Thị Ngọc Lan (73 tuổi) đón chúng tôi tại nhà riêng ở TP.HCM, rồi dẫn lên phòng thờ gia đình. Trên bàn thờ là di ảnh cha mẹ bà. Kế bên, chiếc tủ kính lưu giữ hàng chục huân chương, huy chương, bằng khen cùng những kỷ vật của cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Chúng tôi tìm gặp bà sau nhiều ngày lần theo những câu chuyện về Biệt động Sài Gòn, bởi càng đi sâu vào tư liệu về lực lượng đặc biệt này, cái tên Thiếu tướng Trần Hải Phụng (tên khai sinh là Trần Lương) càng xuất hiện ở những dấu mốc quan trọng.
Từ xây dựng lực lượng vũ trang đô thị, chuẩn bị hầm vũ khí, cơ sở ém quân đến Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 và những năm gây dựng lại thế trận. Tất cả đều xuất hiện tên ông.
Nhưng đứng trước những huân chương của cha, người con gái ấy lại bắt đầu câu chuyện về vị tướng từng dành phần lớn đời binh nghiệp cho chiến trường Sài Gòn - Gia Định bằng những ký ức rất khác - những năm tháng ông còn đơn giản chỉ là “ba”.
“Với tôi, ba chỉ đơn giản là ba”
“Ba nói cho tôi về quê để học tập, cải tạo lao động”, bà Lan kể rồi bật cười khi nhớ lại năm mình mới sáu tuổi.
Cô bé Ngọc Lan khi ấy sinh tại Sài Gòn, được cha đưa về quê nội ở Đức Thọ, Hà Tĩnh. Từ một đứa trẻ chưa quen việc nhà, bà phải học nhóm bếp, gánh nước, ra đồng. Cha sợ con gái được chiều chuộng, không biết lao động nên muốn bà sớm học cách tự lập.

Bà Trần Thị Ngọc Lan - con gái cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Trong ký ức của bà Lan, cha là người nghiêm khắc như thế. Nhưng chuyến về quê năm sáu tuổi cũng mở đầu cho quãng thời gian rất dài bà gần như không được sống bên cha.
Năm 1961, ông Trần Hải Phụng trở lại miền Nam. Vài năm sau, mẹ bà cũng “đi B”. Bà Lan học tại Trường Học sinh miền Nam, vào đại học rồi được cử sang Liên Xô học tập. Những người con lớn lên với rất ít thông tin về cha mẹ, chỉ biết họ đang ở chiến trường.
Ba ở đâu, làm gì, giữ cương vị nào, đối mặt với những hiểm nguy ra sao - những điều ấy gần như nằm sau hai chữ “đi B”.
Gần 20 năm xa cách, phải đến sau ngày đất nước thống nhất, bà Lan mới có dịp đoàn tụ với cha mẹ.
Bởi vậy, khi chúng tôi hỏi sâu hơn về những năm ông Trần Hải Phụng xây dựng lực lượng, chuẩn bị thế trận rồi chỉ huy trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, bà Lan lắc đầu.
“Với tôi, ba chỉ đơn giản là ba. Tôi không biết nhiều về công việc của ba đâu. Muốn biết những chuyện đó thì hỏi anh Biên”, bà nói.
“Anh Biên” mà bà nhắc đến là PGS.TS Phan Xuân Biên.
Ông từng là thư ký của Thiếu tướng Trần Hải Phụng, có nhiều năm làm việc gần gũi bên vị tư lệnh. Nhưng mối quan hệ giữa hai người không chỉ dừng ở công việc. Ông Biên gọi vợ chồng Thiếu tướng Trần Hải Phụng là ba má nuôi. Bà Lan cũng từ lâu xem ông như người anh trong gia đình và mối quan hệ ấy vẫn được giữ gìn thân thiết đến hôm nay.
Theo lời giới thiệu của bà Lan, chúng tôi gặp PGS.TS Phan Xuân Biên - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.
Nếu bà Lan biết ông Trần Hải Phụng trong căn nhà của một người cha, PGS.TS Phan Xuân Biên lại biết ông ở một thế giới khác - những căn cứ bí mật, những cuộc họp, những chỉ thị, mật lệnh và một chiến trường mà người tư lệnh đã dành phần quan trọng nhất của đời binh nghiệp để tìm cách đưa lực lượng vào tận trung tâm.

Bà Trần Thị Ngọc Lan bên tủ huân chương, bằng khen của ba.
“Dù quê Hà Tĩnh nhưng chiến trường của ba Phụng là Sài Gòn - Gia Định”, ông Biên nói.
Câu chuyện về vị tướng đứng sau những trận đánh rung chuyển Sài Gòn thực sự bắt đầu từ đó.
Người dựng thế trận bí mật giữa Sài Gòn
Năm 1961, ông Trần Hải Phụng trở lại miền Nam khi mới 36 tuổi.
Ông được bổ sung vào Ban Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, phụ trách quân sự, sau đó lần lượt đảm nhiệm các cương vị Quyền Tư lệnh, Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Theo PGS.TS Phan Xuân Biên, điều đặc biệt của chiến trường mà Trần Hải Phụng gắn bó là ở chỗ đây không phải vùng rừng núi, nơi lực lượng vũ trang có thể xây dựng căn cứ, kho tàng hay tập trung quân. Sài Gòn là một đô thị đông đúc, nơi đối phương kiểm soát chặt chẽ và chỉ một mắt xích bị lộ cũng có thể kéo theo cả mạng lưới được gây dựng nhiều năm.
Muốn đánh được giữa Sài Gòn, Trần Hải Phụng và những người dưới quyền trước hết phải giải một bài toán khó hơn. Đó là làm thế nào đưa người, súng đạn và cả một thế trận vào thành phố mà đối phương không phát hiện.
“Lấy lòng dân làm căn cứ”, ông Phan Xuân Biên nhắc lại điều người tư lệnh khi ấy luôn coi trọng.
Căn cứ vì thế không nhất thiết nằm trong rừng. Nó có thể là một căn nhà giữa phố, phía dưới đào hầm chứa súng, phía trên một gia đình vẫn ăn ở bình thường. Người lính cũng không xuất hiện với quân phục. Họ phải có giấy tờ, nghề nghiệp, một thân phận đủ thật để sống giữa thành phố nhiều năm.
Từ cuối năm 1964, những mắt xích ấy bắt đầu được đặt vào một kế hoạch lớn: Kế hoạch X. Trung ương Cục xác định chuẩn bị cho Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa, trong đó Sài Gòn - Gia Định là địa bàn trung tâm khi xuất hiện thời cơ chiến lược.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng là vị tướng đứng sau những trận đánh rung chuyển Sài Gòn.
Điều đó đặt lên vai Quân khu Sài Gòn - Gia Định và người tư lệnh Trần Hải Phụng một bài toán đặc biệt: Phải chuẩn bị sẵn lực lượng ngay từ bên trong thành phố, để khi thời cơ đến có thể bất ngờ đánh vào những cơ quan đầu não.
Lực lượng Biệt động được củng cố, thống nhất về tổ chức; những bộ phận phục vụ chiến đấu cũng được hình thành. A20 đảm nhiệm đưa vũ khí từ vùng giải phóng vào thành phố. A30 xây dựng cơ sở, đào hầm, cất giấu vũ khí, chuẩn bị nơi ém quân.
Từng khẩu súng, từng thùng đạn được đưa qua nhiều chặng để vào nội đô rồi biến mất dưới những căn nhà dân. Có những căn hầm được chuẩn bị trước nhiều năm, phía trên cuộc sống vẫn diễn ra như chưa từng có gì khác thường.
Nhưng điều ông Biên nhắc nhiều không phải những căn hầm, đó là con người.
Bởi phía sau một chiến sĩ có thể cầm súng xuất hiện đúng giờ tại một mục tiêu giữa trung tâm Sài Gòn là rất nhiều người khác. Người gây dựng cơ sở, người trinh sát, người chuyển vũ khí, người làm giao liên, người tìm nơi ém quân và những gia đình chấp nhận biến chính ngôi nhà của mình thành một mắt xích của chiến trường.
Một thế trận như vậy không thể dựng trong vài tháng, nó được tính bằng năm. Và đến cuối năm 1967, những gì âm thầm được chuẩn bị trong thời gian dài bước vào một cuộc thử thách lớn.
Kế hoạch không được thực hiện trọn vẹn do tình hình chiến trường thay đổi, nhưng hệ thống lực lượng và cơ sở bảo đảm được tiếp tục củng cố, tạo nền tảng quan trọng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.


Huân chương Chiến thắng và Huân chương Độc lập của Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chiến trường Sài Gòn - Gia Định được tổ chức lại. Ông Trần Hải Phụng giữ cương vị Tư lệnh Phân khu 6 - phân khu nội đô, nơi tập trung các ban, ngành, đoàn thể cùng lực lượng Biệt động và an ninh hoạt động bên trong thành phố.
Ông đồng thời tham gia Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam cùng những cán bộ lãnh đạo như Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, phụ trách các hướng tiến công và lực lượng hoạt động nội thành.
Đến thời điểm ấy, Trần Hải Phụng không còn chỉ là người góp phần gây dựng lực lượng, ông đã trở thành một trong những người tham gia trực tiếp tổ chức, chỉ huy chiến trường nội đô.
Đến cuối năm 1967, những thứ đã được giấu trong lòng Sài Gòn suốt nhiều năm bắt đầu được gọi dậy.
Những căn hầm mở nắp, súng đạn được đưa lên. Những chiến sĩ nhiều năm sống dưới vỏ bọc của người dân thành phố rời nơi ém quân.
Đích đến của họ là những nơi mà trước đó ít ai nghĩ một lực lượng nhỏ có thể đánh tới: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân...
Chỉ 88 chiến sĩ Biệt động trực tiếp tham gia đánh các mục tiêu trọng yếu. Nhưng phía sau 88 người trực tiếp bước vào trận đánh là một lực lượng lớn hơn nhiều lần không xuất hiện trong đội hình chiến đấu. Những người đào hầm, chuyển súng, làm giao liên, nuôi giấu cán bộ, những gia đình giữ cơ sở và cả bộ phận tổ chức, chỉ huy phải tính toán để cả hệ thống có thể cùng chuyển động khi giờ G đến.

PGS.TS Phan Xuân Biên - thư ký và là con nuôi của cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Đó cũng là lý do, trong câu chuyện của PGS.TS Phan Xuân Biên, vai trò của Thiếu tướng Trần Hải Phụng không được đo bằng một trận đánh riêng lẻ. Mậu Thân là một cao trào, nhưng không phải toàn bộ cuộc đời chiến trận của ông.
Nhưng sau những trận đánh gây chấn động Sài Gòn là một cái giá khủng khiếp.
Trong 88 chiến sĩ tham gia các mũi tiến công, 61 người hy sinh. Nhiều cơ sở bị lộ, những đường dây mất nhiều năm gây dựng bị cắt đứt.
Với ông Trần Hải Phụng, Mậu Thân vì thế không phải đoạn kết của một kế hoạch. Nó mở ra một công việc khác, âm thầm và dai dẳng hơn: dựng lại thế trận từ những gì còn sót lại.
Ông Biên nhớ những năm 1969-1970, tại căn cứ nơi Thiếu tướng Trần Hải Phụng làm việc, nhiều chỉ thị, mật lệnh và phương án tác chiến tiếp tục được hình thành. Những đầu mối bị đứt phải nối lại, cơ sở mới được gây dựng, lực lượng tiếp tục được củng cố để bám thành phố.
Đến cuối năm 1969, đầu năm 1970, phần lớn mạng lưới cơ sở nội thành từng bước được khôi phục. Năm 1972, khi Quân khu Sài Gòn - Gia Định được tái lập, Trần Hải Phụng tiếp tục giữ cương vị Tư lệnh.
Mãi đến cuối năm 1974, sau hơn một thập kỷ liên tục bám chiến trường, sức khỏe giảm sút, ông mới được đưa ra Bắc kiểm tra, điều trị. Khi Chiến dịch mùa Xuân 1975 bắt đầu, ông được điều về Bộ Tổng Tham mưu theo dõi chiến trường Sài Gòn - Gia Định.
Vị tướng ít lời và những câu chuyện sau giờ giao ban
Sau những năm tháng chiến trường, điều PGS.TS Phan Xuân Biên nhớ về Thiếu tướng Trần Hải Phụng không chỉ là những cuộc họp căng thẳng, những bản tin tình báo hay những mệnh lệnh được chuyển đi sau mỗi buổi giao ban.
Trong ký ức của người thư ký năm xưa còn có một Trần Hải Phụng rất khác: Ít nói, sống nguyên tắc nhưng không khắt khe, gần gũi với anh em theo một cách hiếm khi biểu lộ thành lời.

PGS.TS Phan Xuân Biên chia sẻ với PV Báo Điện tử VTC News về Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Ông bảo người chỉ huy của mình nghiêm nhất là trong công việc, còn ngoài công việc lại rất ít khi lấy chức vụ hay kỷ luật để tạo khoảng cách với chiến sĩ.
Ai làm sai, ông nói ngay. Việc nào chưa đúng, ông chỉ thẳng chỗ chưa đúng, hướng dẫn cách sửa. Nhưng ông Biên gần như không nhớ có lần nào thủ trưởng Trần Hải Phụng vì một sai sót thông thường mà đem cấp dưới ra kỷ luật nặng nề.
Với ông, quan trọng là người dưới quyền phải hiểu mình sai ở đâu để lần sau không lặp lại.
“Ba chỉ rất kỹ. Sai là nói ngay, nói cho mình hiểu tại sao sai chứ không phải cứ sai là kỷ luật”, ông Biên nhớ lại.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng (thứ 3 từ trái qua) hồi công tác ở Cuba.
Cứ như vậy, người sinh viên mới ra trường dần trưởng thành trong công việc. Sự quan tâm ấy không chỉ dành cho người thư ký bên cạnh mình. Giữa chiến trường, khi công việc mỗi ngày gắn với tình hình quân sự, thương vong và những thay đổi từng giờ, ông Trần Hải Phụng vẫn để ý đến một chuyện tưởng như rất xa tiếng súng, đó là trình độ văn hóa của chiến sĩ.
“Ba nhiều lần nhắc tôi rằng trong đơn vị có nhiều anh em mới học hết lớp 1 đã vào bộ đội, còn tôi là người được học đại học thì phải giúp anh em học thêm. Từ đó, những lớp văn hóa từ lớp 1 đến lớp 7 vẫn được tổ chức ngay trong chiến trường, tôi là người đứng lớp”, ông Biên kể.
Những điều ấy cũng lý giải vì sao mối quan hệ giữa người thủ trưởng và người thư ký không dừng lại khi công việc kết thúc. Ông Phan Xuân Biên gọi vợ chồng Thiếu tướng Trần Hải Phụng là ba má nuôi, còn bà Ngọc Lan coi ông như một người anh. Từ chiến trường đến nhiều thập kỷ sau hòa bình, tình cảm giữa hai gia đình vẫn được giữ như một mối quan hệ ruột thịt.
Nhưng bên cạnh những chuyện vui mỗi khi nhớ về “ba Phụng”, giọng ông Biên chùng xuống khi câu chuyện trở lại những người lính Biệt động. Đó là một trong những nỗi day dứt còn kéo dài rất lâu sau chiến tranh.
Đặc thù hoạt động bí mật buộc nhiều chiến sĩ phải dùng bí danh, giấy tờ giả, nghề nghiệp và thân phận khác. Họ sống giữa Sài Gòn như những người dân bình thường, có người cùng hoạt động với nhau nhưng cũng không nắm đầy đủ lai lịch của đồng đội.
Cách tổ chức ấy từng là lớp bảo vệ cần thiết để lực lượng có thể tồn tại ngay giữa lòng đối phương, nhưng sau chiến tranh lại để lại những khoảng trống rất khó lấp đầy.
Trong 88 chiến sĩ Biệt động tham gia tiến công các mục tiêu trọng yếu dịp Xuân Mậu Thân 1968, theo tư liệu ông Biên cung cấp, 61 người hy sinh. Nhiều trường hợp sau đó gặp khó khăn trong xác minh danh tính bởi hồ sơ thời chiến không đầy đủ, người hy sinh chỉ còn được nhớ bằng một bí danh hoặc tên quy ước.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng (ngồi, thứ 4 từ trái qua) và PGS.TS Phan Xuân Biên (đứng, thứ 6 từ trái qua).
Ông Biên kể, trên Bia tưởng niệm tập thể, nhiều cán bộ, chiến sĩ biệt động phải ghi tên như giả vì không còn đủ căn cứ xác định tên thật. Sau nhiều năm kiên trì xác minh, 49 trường hợp mới được công nhận liệt sĩ, nhưng trong số đó chỉ một trường hợp còn xác định được thân nhân để trao bằng Tổ Quốc ghi công.
Với những người từng sống cùng họ, đó là một nghịch lý đau đáu. Trong chiến tranh, muốn bảo vệ chiến sĩ phải giấu càng kỹ càng tốt tên tuổi và tung tích của họ, nhưng khi họ ngã xuống, chính những bí mật từng bảo vệ họ lại khiến hành trình tìm lại tên thật trở nên khó khăn.
Có lẽ cũng vì thế, sau ngày đất nước thống nhất, Thiếu tướng Trần Hải Phụng không rời khỏi những câu chuyện của chiến trường cũ. Ông dành thời gian, công sức đi tìm lại tên cho những người lính năm xưa.
Sau ngày 30/4/1975, Thiếu tướng Trần Hải Phụng tiếp tục gắn bó với lực lượng vũ trang TP.HCM và Quân khu 7. Ông từng giữ các cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM, Phó Tư lệnh Quân khu 7, sau đó làm Phó trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Cuba. Ông được Đảng và Nhà nước Cuba tặng thưởng Huân chương Che Guevara.
Sau khi trở về từ Cuba, ông tiếp tục công tác trong quân đội. Đến năm 1991, Thiếu tướng Trần Hải Phụng nghỉ hưu sau 45 năm quân ngũ.
Những năm cuối đời, dù sức khỏe giảm sút, ông vẫn dành nhiều thời gian nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, góp phần biên soạn lịch sử lực lượng vũ trang và chiến trường Sài Gòn - Gia Định, nơi ông đã có nhiều năm trực tiếp chiến đấu, tổ chức và chỉ huy.
Thiếu tướng Trần Hải Phụng qua đời ngày 4/3/1997, hưởng thọ 72 tuổi.
Năm 2015, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



![[Video] 75 năm sau trận đánh, 47 liệt sĩ trở về với đất mẹ Lai Châu](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w400_r3x2/2026_08_11_14_55805732/393518c15d8ab4d4ed9b.jpg)








