Chuyện nghề... vọng giữa phố đông (Bài 3): Nghề xưa tìm hướng đi mới
Câu chuyện giữ được nghề truyền thống đã khó, làm sao để nghề tiếp tục 'sống khỏe' là điều không dễ dàng. Thiết nghĩ, điều quan trọng nhất là phải thay đổi để thích ứng với thời cuộc nhưng không đánh mất giá trị cốt lõi đã làm nên thương hiệu, đặc trưng riêng có.
Trở lại cửa tiệm xay bột gia truyền Phúc Nguyệt trên đường Đinh Công Tráng, câu chuyện về sự đổi thay của nghề hiện lên rõ nét hơn. Chính nơi đây, việc mạnh dạn thay đổi từ rất sớm đã giúp một nghề cũ tiếp tục đứng vững giữa phố đông.

Nhờ ứng dụng công nghệ, máy móc, đổi mới cách làm, mà cửa hàng xay bột gia truyền Phúc Nguyệt trên đường Đinh Công Tráng luôn có khách hàng.
Từ năm 1985, khi nhận thấy rõ rệt “tín hiệu” cần phải thay đổi để “không bị bỏ lại phía sau”, gia đình bà Nguyệt mạnh dạn đầu tư hai máy xay chạy bằng điện để nâng cao năng suất, phục vụ khách hàng tốt hơn. Với điều kiện kinh tế lúc bấy giờ, quyết định ấy không hề dễ dàng.
“Lúc bấy giờ, tiền bạc cũng đâu có dư dả nhưng mình muốn mở rộng nghề, muốn khách hàng được phục vụ tốt nhất. Có máy xay điện thì đỡ cực hơn, khách cũng không phải chờ lâu như trước mà chất lượng bột khi xay sẽ mịn, đẹp hơn rất nhiều”, bà Nguyệt nhớ lại.
Việc thay đổi phương thức sản xuất không đồng nghĩa với thay đổi những nguyên tắc của nghề. Điều bà Nguyệt luôn gìn giữ suốt hơn 50 năm qua là chất lượng của từng mẻ bột và chữ tín với khách hàng. Mỗi loại gạo, đỗ hay ngũ cốc đều được xay riêng; máy móc được vệ sinh sau từng lượt xay để bảo đảm hương vị và an toàn thực phẩm.
Có lẽ chính vì thế mà giữa lúc thị trường ngày càng xuất hiện nhiều sản phẩm bột, ngũ cốc chế biến sẵn, cửa hiệu của gia đình bà vẫn đều đặn có khách. Đến nay, cửa hiệu xay bột gia truyền của gia đình bà Nguyệt đã có 10 máy xay các loại, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Câu chuyện của gia đình bà Nguyệt cho thấy: Việc ứng dụng công nghệ, máy móc, đổi mới cách làm là điều kiện cần để thích ứng với thời cuộc. Ngược lại, càng biết thích ứng với nhu cầu của thời đại, những giá trị cốt lõi như chất lượng sản phẩm, chữ tín và cái tâm với nghề càng trở thành điểm tựa để nghề, làng nghề truyền thống khẳng định vị thế giữa thị trường nhiều cạnh tranh.
Đó cũng chính là những điều mà mỗi chúng ta dễ dàng nhận thấy khi ghé thăm các hộ, cơ sở sản xuất hương Quán Giò (phường Hạc Thành). Không khí lao động vẫn hăng say, nhịp nhàng nhưng cách làm nghề đã có nhiều đổi khác.
Theo chị Lê Thị Hương, chủ cơ sở hương Lai Túy cho biết: “Nguyên liệu và quy trình sản xuất hương Quán Giò đã có sự điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế, nhu cầu thị trường. Trước đây, hương liệu chủ yếu là rễ cây trầm, tăm hương các hộ tự mua nứa về chẻ, ngâm rồi làm. Nay rễ trầm được thay bằng bột trám, bột bài"...
Ông Cao Văn Long, Phó Bí thư Chi bộ tổ dân phố Bà Triệu cho biết:Người dân Quán Giò tha thiết yêu nghề và mong muốn được làm nghề, làm giàu bằng nghề truyền thống của cha ông. Trong bối cảnh hiện nay, nghề làm hương Quán Giò nói riêng, các nghề, làng nghề truyền thống đối mặt với không ít khó khăn như mặt bằng sản xuất, vốn, chi phí sản xuất tăng, cạnh tranh thị trường... Vì vậy, các hộ, cơ sở đều ý thức sâu sắc việc đổi mới để thích ứng, phát triển.

Nhiều hộ, cơ sở đã đầu tư máy móc, ứng dụng công nghệ vào một số khâu trong quy trình sản xuất hương Quán Giò.
Nếu giữ nguyên toàn bộ quy trình thủ công như trước, một mẻ hương Quán Giò làm ra sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức. Trong khi đó, thị trường ngày càng cạnh tranh, người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm vừa đẹp, vừa đồng đều về chất lượng. Vì vậy, nhiều hộ sản xuất đã mạnh dạn đầu tư máy lăn hương, máy nghiền nguyên liệu, máy làm nhang/hương tự động... thay thế một phần sức lao động thủ công. Nhờ đó, năng suất được nâng lên, hình thức sản phẩm đẹp hơn mà không làm mất đi mùi hương đặc trưng.
Mặc dù quy mô nghề có bị thu hẹp nhưng không khí làm nghề phần nào cho thấy sức sống bền bỉ của thương hiệu hương Quán Giò. Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của hương Quán Giò là được làm hoàn toàn bằng thảo mộc tự nhiên, không độc hại, không hóa chất nên mùi hương thanh mát, dịu nhẹ, tạo cảm giác dễ chịu.
Ở phố Nam Ngạn, phường Hàm Rồng, những lò bánh mỳ vẫn đỏ lửa suốt hàng chục năm qua. Ngọn lửa ấy chưa bao giờ tắt nhưng cách giữ lửa thì đã khác.

Nếu trước đây, bánh mỳ được nướng thủ công bằng lò than, lò củi thì nay các cơ sở đều chuyển sang lò điện.
Máy móc được đưa vào nhiều công đoạn để giảm sức lao động, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều đáng quý là hương vị đặc trưng của bánh vẫn được giữ nhờ bí quyết lên men riêng của từng gia đình.
Không chỉ sản xuất một sản phẩm bánh mỳ truyền thống, hiện nay các cơ sở còn liên tục làm mới, đa dạng sản phẩm như: bánh mỳ xốp, bánh gato, bánh mì bơ cốm và nhiều dòng bánh khác để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
Một số hộ còn mở rộng hệ thống phân phối, bán hàng trên các nền tảng mạng xã hội, đưa những ổ bánh của làng nghề đến với nhiều khách hàng hơn mà không còn phụ thuộc vào quầy bán truyền thống.
Sự thay đổi ấy cho thấy, nghề truyền thống không hề đối lập với công nghệ. Khi biết làm mới mình, biết tận dụng chuyển đổi số, đổi mới mẫu mã, mở rộng kênh tiêu thụ, nghề xưa có thêm cơ hội tiếp cận thị trường mới mà vẫn giữ được “hồn cốt”.
Để rồi, mỗi nghề, làng nghề vẫn có thể tìm được chỗ đứng trong đời sống hiện đại, tiếp tục nuôi sống người thợ, lưu giữ bản sắc đô thị và kể tiếp câu chuyện của phố bằng chính thanh âm lao động bền bỉ mỗi ngày.










