Chuyện nhà sư xứ Nghệ trồng rau dền đỏ để nhuộm cờ Đảng
Có một nhà sư xứ Nghệ với tinh thần “hoa sen trong biển lửa” từng cầm cờ đỏ búa liềm đi biểu tình, lấy chùa làm cơ sở kháng chiến, trồng rau dền đỏ để nhuộm cờ Đảng… Cuộc đời của vị chân tu ấy luôn thể hiện rõ tinh thần nhập thế, hộ quốc an dân.
Câu chuyện về Đại lão Hoà thượng Thích Thanh Bản được trích dẫn từ tham luận của Đại đức Thích Minh Hải, trụ trì chùa An Thái, Phó Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Nghệ An, tại Hội thảo khoa học "Đạo Phật với Cách mạng Việt Nam" diễn ra sáng 25/8/2025 tại Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Mùa thu tháng Tám năm 1945, trong không khí sục sôi nổi dậy giành chính quyền, người dân vùng biển Quỳnh Lưu (Nghệ An) chứng kiến một hình ảnh vô cùng đặc biệt: Trụ trì chùa Ngọc Lâm - Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản - đứng đầu hàng ngũ, sát cánh cùng quần chúng lật đổ ách thống trị phong kiến, đế quốc, đón niềm vui độc lập.
Chỉ ít lâu sau, khi nạn đói khủng khiếp tràn qua dải đất miền Trung nghèo khó, vị sư trụ trì lập tức vận động các hào mục, phú hộ quyên góp lương thực, tổ chức những nồi cháo cứu tế ngay tại cửa thiền. Ông còn lặn lội lên những vùng núi cao hiểm trở, vận động đồng bào dân tộc thiểu số ủng hộ hàng chục tấn khoai, sắn, ngô để đưa về miền xuôi cứu đói.
Ít ai biết rằng, trước đó, nhà sư xứ Nghệ đã có một hành trình đầy kiên cường và bản lĩnh trong "biển lửa" của thời cuộc.

Chùa Ngọc Lâm ở Quỳnh Lưu, Nghệ An là nơi Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản trụ trì nhiều năm. Ảnh: Tổ đình Ngọc Lâm
"Phục vụ chúng sinh chính là cúng dường chư Phật"
Ngược dòng thời gian về năm 1919, vị tăng trẻ thế danh Trần Đức Bản (sinh năm 1891 tại Nam Định) được Sơn môn công cử về trụ trì chùa Ngọc Lâm ở Quỳnh Lưu, Nghệ An.
Với tinh thần “Nhập Bồ tát hạnh”, “Hoa sen trong biển lửa”, sư Bản quan niệm rằng không thể ngồi yên trong chùa tụng kinh niệm Phật khi đồng bào ngoài kia đang chịu cảnh đau thương. Phục vụ chúng sinh cũng chính là cúng dường chư Phật.
Chứng kiến cảnh đồng bào lầm than dưới ách thực dân, phong kiến, sư Bản sớm ngộ ra chân lý: "Phục vụ chúng sinh chính là cúng dường chư Phật". Tinh thần “Hoa sen trong biển lửa” bắt đầu thắp sáng từ đây.
Năm 1929, sư Bản tham gia đội tuần vệ của xã, biến ngôi chùa tĩnh mịch thành cơ sở cách mạng bí mật. Đến cao trào đấu tranh tháng 6/1930, nhà sư liên hệ với chư tăng và người yêu nước, vận động quyên góp tiền, vàng mua mã tấu ủng hộ lực lượng cách mạng.
Đặc biệt, hình ảnh vị tăng sĩ áo nâu sồng, tay giương cao lá cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn người làm muối, làm mắm đi biểu tình đòi quyền lợi cho dân đã trở thành biểu tượng nhập thế sinh động của Phật giáo.
Uy tín lan rộng, trụ trì chùa Ngọc Lâm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành hạt nhân quy tụ lòng dân hướng về cách mạng.
Chốn thiền môn Ngọc Lâm ngày ấy có những luống rau vô cùng đặc biệt. Ngoài giờ hành trì, sư Bản tích cực tăng gia sản xuất, trồng nhiều nghệ để bào chế thuốc sát trùng cho cán bộ, và trồng cả những luống rau dền đỏ tươi để lấy nước luộc nhuộm nên những lá cờ Đảng.
Những năm 1932-1933, phát hiện ra chùa Ngọc Lâm là cơ sở in tài liệu và may cờ búa liềm, thực dân Pháp đã đốt phá chùa, bắt bớ và tra tấn sư Bản, nhưng đòn thù không quật ngã được ý chí của vị chân tu.
Dời về vùng Thanh Chương, sư Bản tiếp tục biến các chùa Văn Giai, Linh Sâm… thành điểm liên lạc, cất giấu vũ khí, lương thực cho lực lượng cách mạng. Cuối năm 1943, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp ủy Kỳ bộ Việt Minh tỉnh Nghệ An.
Năm 1944, nhân lễ Khánh đản Quan Âm tại chùa Ngọc Lâm, sư Bản công khai tuyên truyền tôn chỉ của Việt Minh. Khi thực dân Pháp càn quét, phát hiện cờ búa liềm giấu trong chùa, vị sư trụ trì lại bị bắt và tra tấn dã man một lần nữa nhưng vẫn giữ trọn lòng son sắt, kiên quyết không khai, buộc Pháp phải phóng thích.
Tôn tạo lại chùa Ngọc Lâm, sư Bản tiếp tục tổ chức đào nhiều hầm bí mật nuôi dưỡng, che giấu cán bộ tuyên truyền giải phóng quân.
Lấy cửa chùa làm nơi “hộ quốc an dân”
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vị sư trụ trì chùa Ngọc Lâm tiếp tục lấy cửa chùa làm nơi “hộ quốc an dân”.
Năm 1946, hưởng ứng "Tuần lễ vàng" và Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư cách Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Nghệ An, Hòa thượng Thích Thanh Bản vận động nhân dân quyên góp hàng trăm đồng bạc, hàng chục tấn muối, mắm ủng hộ kháng chiến, kêu gọi tăng ni thực hiện "vườn không nhà trống". Năm 1947, chùa Ngọc Lâm trở thành lớp Bình dân học vụ để xóa "giặc dốt" cho ngư dân vùng Bãi Ngang.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, năm 1952, Hòa thượng vận động nhân dân huy động gần 200 chiếc thuyền lớn nhỏ chở bộ đội vượt eo biển an toàn. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, người ta lại thấy vị sư trụ trì cùng tăng ni, Phật tử thồ gạo, muối, thuốc men vượt hàng trăm cây số ra Thanh Hóa, lên đèo Cò Nòi, Sơn La phục vụ tiền tuyến.
Giữa “biển lửa” của thời cuộc, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản đã lựa chọn cách sống của một “đóa sen nhập thế”: phụng sự đạo pháp bằng tình yêu đất nước, phụng sự dân tộc bằng cả cuộc đời.
Từ năm 1957, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản tích cực vận động các sư sãi, tăng ni, Phật tử thi đua lao động sản xuất, mở các lớp bình dân học vụ, huấn luyện dân quân tự vệ, đào hàng nghìn mét giao thông hào, hầm tránh bom, cất giấu tài liệu, và giới thiệu hàng trăm quần chúng ưu tú cho Đảng..., xây dựng hậu phương vững chắc, góp phần chi viện cho tiền tuyến kháng chiến miền Nam.
Ngày 21/3/1962 (tức ngày 19/2 năm Nhâm Dần), Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản viên tịch.
Năm 2016, vị chân tu được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc.

Năm 2016, cố Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Ảnh: Đạo Phật ngày nay
Hành trình từ một nhà tu hành thành chiến sĩ cách mạng kiên trung của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản đã khắc họa rõ nét tinh thần “Đạo pháp - Dân tộc” và hạnh nguyện “Hộ quốc an dân”, góp phần viết nên những trang sử đặc biệt của Phật giáo yêu nước xứ Nghệ.
Kể lại câu chuyện về vị chân tu, Đại đức Thích Minh Hải, Phó Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Nghệ An bày tỏ: "Suốt cuộc đời mình, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản luôn mộc mạc giản dị trong nếp sống thiền môn. Cho đến hơi thở cuối cùng, Ngài vẫn trọn vẹn với đạo pháp và dân tộc, như một minh chứng sống tiếp lửa cho hậu thế".
