Chuyện những người trẻ về làng 'làm việc xanh'

Từ chiếc đèn cảnh báo nước mặn giúp bà con giữ vườn cây ở Cồn Hô đến những tờ giấy làm từ rơm rạ tại Huế, các nhóm thanh niên đang mang kiến thức từ giảng đường về giải quyết những khó khăn của người dân. Những sáng kiến ấy còn mở ra cơ hội để học sinh, các gia đình cùng tìm hiểu, thực hành và thay đổi thói quen trong việc gìn giữ môi trường sống.

Các thành viên dự án “Horizon” vận chuyển thiết bị đến Cồn Hô, một cù lao nhỏ ở Vĩnh Long, để triển khai hệ thống quan trắc môi trường, hỗ trợ người dân theo dõi nguồn nước và chủ động ứng phó với xâm nhập mặn

Các thành viên dự án “Horizon” vận chuyển thiết bị đến Cồn Hô, một cù lao nhỏ ở Vĩnh Long, để triển khai hệ thống quan trắc môi trường, hỗ trợ người dân theo dõi nguồn nước và chủ động ứng phó với xâm nhập mặn

Người trẻ biến ý tưởng thành hành động

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng rõ đến sản xuất và sinh hoạt ở nhiều địa phương. Với người trồng cây ăn trái, một lần lấy nhầm nước nhiễm mặn có thể khiến cả vườn cây bị thiệt hại. Với những vùng quê sau mùa gặt, chuyện xử lý rơm rạ cũng không đơn giản khi việc đốt bỏ gây khói bụi, ô nhiễm. Từ những khó khăn ấy, người trẻ đã tìm lời giải bằng kiến thức được học và sự hiểu biết thực tế ở địa phương.

Tại Hội nghị Tổng kết Sáng kiến Thanh niên Tiên phong (YAI) 2026 vừa diễn ra tại Hà Nội, đại diện 10 nhóm dự án được hỗ trợ đã chia sẻ kết quả triển khai sáng kiến. Mỗi nhóm chọn một hướng đi, nhưng đều bắt đầu từ nhu cầu cụ thể của cộng đồng. Dự án “Horizon” tại Cồn Hô (Vĩnh Long) là một ví dụ. Nhóm sinh viên xây dựng hệ thống quan trắc gồm hai trạm cảm biến nước - đất và một thiết bị kết nối (gateway), đưa dữ liệu lên nền tảng web để bà con theo dõi điều kiện môi trường phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Dự án còn hướng tới hướng dẫn 30 thanh niên và 5 người dân địa phương tiếp cận, đọc và sử dụng những thông tin thu được từ hệ thống.

Điều bà con cần nhất là biết lúc nào nguồn nước có nguy cơ nhiễm mặn. Trước đây, họ phải kiểm tra, thậm chí nếm nước theo cách thủ công, có khi thức đêm canh nguồn nước tưới. Nếu lấy nhầm nước mặn, cây ăn trái sẽ bị cháy lá, chết cây. Với hệ thống mới, tín hiệu cảnh báo được thể hiện qua đèn báo ở bến đò và có thể xem nhanh trên điện thoại. Người trồng vườn bớt một công đoạn vất vả, đồng thời có thêm cơ sở để quyết định khi nào nên lấy nước. Việc giữ được nguồn nước ngọt cũng có ý nghĩa với mô hình du lịch sinh thái của Cồn Hô.

Ở TP Huế, dự án “Chuyến đi của rơm” lại khởi đầu từ thứ nguyên liệu quen thuộc sau mỗi vụ gặt. Rơm rạ được thu gom, làm thành giấy thủ công thay vì đốt bỏ. Sản phẩm nhỏ bé ấy giúp người tham gia nhìn lại cách sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời gợi ra một hướng giảm khói bụi từ đồng ruộng.

Nhóm dự án tổ chức các hoạt động trải nghiệm STEAM về biến đổi khí hậu và kinh tế tuần hoàn cho 343 học sinh và người khuyết tật. Một cuộc thi video thu hút hơn 25.000 lượt xem; triển lãm cộng đồng đón 120 người tham gia. Qua việc tự tay làm giấy, tìm hiểu vật liệu và trao đổi về môi trường, những khái niệm tưởng xa lạ được đưa vào hoạt động mà trẻ em có thể quan sát, thử sức. Cách làm ấy cũng tạo cơ hội để gia đình cùng trò chuyện với con về thói quen sử dụng, tiết kiệm và xử lý những thứ thường bị coi là đồ bỏ đi.

Hai dự án đều không bắt đầu từ khẩu hiệu lớn. Một bên giúp người làm vườn tránh thiệt hại vì nước mặn; bên kia tận dụng rơm rạ, đưa học sinh và người khuyết tật đến gần câu chuyện tái chế. Công nghệ hay sản phẩm thủ công chỉ là phương tiện. Điều cần tính tiếp là người dân có sử dụng được lâu dài hay không, các hoạt động trải nghiệm có được duy trì hay không. Đó là câu hỏi với nhiều sáng kiến sau khi hết thời gian được hỗ trợ.

Để sáng kiến xanh đi xa hơn

Anh Khoa, sinh viên Trường Đại học Bách khoa TP.HCM, thành viên sáng lập dự án “Horizon” cho biết, nhóm muốn đem kiến thức từ giảng đường đến giải quyết khó khăn của người dân. Chuyến đi Cồn Hô khiến Khoa hiểu rõ hơn những vất vả trong việc canh nguồn nước, nhất là khi xâm nhập mặn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng và sinh kế. Một hệ thống cảm biến sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu chỉ hoạt động tốt trong phòng thí nghiệm mà bà con không thể sử dụng.

“Trước đây, chúng em học về cảm biến, dữ liệu và các hệ thống kết nối chủ yếu qua bài giảng, bài tập. Nhưng khi đến Cồn Hô, nhìn thấy những khó khăn mà người dân đang đối mặt, chúng em hiểu rõ hơn kiến thức của mình có thể được sử dụng vào việc gì. Nhóm mong muốn đưa hệ thống quan trắc đầu tiên đến vùng, giúp bà con theo dõi nguồn nước thuận tiện hơn, giảm bớt công sức và chủ động bảo vệ cây trồng, sinh kế”, Anh Khoa bày tỏ.

Theo Khoa, điều đáng quý là nhóm được tiếp xúc với nhu cầu thật của người dân, từ đó biết mình cần điều chỉnh điều gì. Đối với những sinh viên kỹ thuật, quá trình đưa một thiết bị ra sử dụng ở địa phương cũng là bài học về trách nhiệm với sản phẩm mình làm ra. Để hệ thống có thể tiếp tục hữu ích, nhóm cần hoàn thiện cách vận hành, hướng dẫn sử dụng và tính đến việc duy trì thiết bị sau giai đoạn triển khai ban đầu.

Nhìn rộng hơn từ những dự án như “Horizon” hay “Chuyến đi của rơm”, Đoàn Thị Phương Hoa, Phó ban Hợp tác của YNet Việt Nam (Mạng lưới Thanh niên hành động vì khí hậu Việt Nam) nhận xét, thanh niên ngày càng chủ động tìm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy vậy, đi từ ý tưởng đến một hoạt động có thể tồn tại lâu dài ở cộng đồng là chuyện không dễ. Sự nhiệt tình và khả năng tiếp cận công nghệ của người trẻ cần đi cùng kiến thức, cơ hội thực hành, kinh phí và sự hỗ trợ chuyên môn.

Theo Phương Hoa, cần tăng cường kết nối giữa nhà trường, tổ chức thanh niên, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các đối tác phát triển. Khi có người hướng dẫn, có nơi thử nghiệm, có nguồn lực để sửa những điều chưa phù hợp, các nhóm dự án mới có cơ hội duy trì kết quả sau thời gian thí điểm. Cũng từ đó, những mô hình hiệu quả có thể được điều chỉnh để áp dụng ở các địa bàn có điều kiện tương tự, thay vì dừng lại ở một cuộc tổng kết.

“Ứng phó với biến đổi khí hậu là hành trình dài, không thể trông chờ vào một nhóm giải pháp hay một chủ thể riêng lẻ. Điều quan trọng là tạo được mạng lưới hợp tác để người trẻ có thể đóng góp tiếng nói, năng lực và sáng kiến của mình”, Phương Hoa nhấn mạnh.

Chiếc đèn báo nước mặn bên bến đò hay tờ giấy làm từ rơm tuy nhỏ bé nhưng đã bắt đầu từ những khó khăn có thật trong đời sống. Điều đáng quý ở những người trẻ là họ chịu khó tìm hiểu, lắng nghe người dân để biết mình có thể giúp được gì. Và từ những việc làm giản dị như thế, ý thức gìn giữ môi trường cũng dần được chia sẻ, tiếp nối trong cộng đồng, nhất là với thế hệ trẻ hôm nay.

THANH MAI

Nguồn Văn hóa: https://baovanhoa.vn/chuyen-nhung-nguoi-tre-ve-lang-lam-viec-xanh.html