Chuyện thoát nghèo ở Vàng Ngần

Tuyến đường bê tông dài hơn 4 km 'uốn mình' theo sườn núi, nối thôn Vàng Ngần với trung tâm xã Sơn Lương giờ đây đã trở thành dấu mốc quan trọng trong hành trình đổi thay của mảnh đất này.

Vàng Ngần hiện có 106 hộ, 544 nhân khẩu, phần lớn là dân tộc Dao. Nhiều năm trước, cái nghèo nơi đây hiện diện trong từng nếp nhà. Ông Triệu Văn Thọ, Trưởng thôn Vàng Ngần nhớ lại: “Bà con quanh năm bám nương, đồi, ít ruộng nước, chăn nuôi nhỏ lẻ. Nghèo không chỉ vì thiếu tiền, mà thiếu đường đi, thiếu đất sản xuất, thiếu điều kiện để phát triển kinh tế”.

Năm 2025, người dân Vàng Ngần nhắc nhiều đến việc giảm 13 hộ nghèo trong tổng số 48 hộ nghèo. Hiện, thôn còn 18 hộ nghèo và dự kiến năm 2026 sẽ tiếp tục giảm 8 hộ. Con số không lớn nếu nhìn từ bên ngoài, nhưng với thôn vùng cao đặc biệt khó khăn thì đó là cả quá trình vận động, đồng thuận và tự lực vươn lên.

Trước khi có đường bê tông, mỗi mùa mưa xuống là một lần thôn bị chia cắt. Quế, lúa, lợn, gà muốn bán phải gùi bộ hoặc chờ nắng ráo. Trẻ em đi học cũng lấm lem bùn đất. Vì thế, khi chủ trương làm đường được triển khai, người dân Vàng Ngần đã bàn bạc và đồng thuận cao.

Để có tuyến đường dài hơn 4 km hôm nay, người dân đã hiến khoảng 5 ha đất và tài sản trên đất. Có hộ hiến vài trăm mét vuông đất, mảnh nương quế, thậm chí cả ruộng lúa. Trong các cuộc họp, người dân chỉ nói với nhau một câu giản dị: “Đường làm xong thì con cháu mình đi trước”.

Tuyến đường hoàn thành không chỉ rút ngắn thời gian đi lại, mà còn thay đổi cách nghĩ, cách làm. Quế bóc xong có thể chở thẳng xuống điểm thu mua. Lúa, ngô, gia súc được vận chuyển thuận lợi hơn. Thương lái cũng vào tận thôn. Từ chỗ sản xuất cầm chừng, người dân bắt đầu tính đến chuyện mở rộng diện tích, nâng cao năng suất cây trồng.

Nếu tuyến đường là động lực thì rừng quế là nền tảng sinh kế bền vững của Vàng Ngần. Cả thôn hiện có khoảng 350 ha quế. Riêng quế tập thể được bảo vệ từ năm 1972 đến nay là 50 ha. Năm 2025, thôn trồng mới thêm 35 ha quế tập thể. Quế ở Vàng Ngần được khai thác đúng chu kỳ. Cây đủ tuổi mới bóc vỏ, sau đó trồng dặm, trồng mới. Nhờ cách làm bài bản, nguồn thu từ quế tập thể năm nay đạt hơn 416 triệu đồng sau khi bán hơn 15 tấn vỏ quế.

Điều đáng nói là số tiền này không chia đều cho từng hộ mà người dân thống nhất dùng cho việc chung: làm đường, sửa nhà văn hóa, xây cầu, làm cống thoát nước. “Của chung thì lo việc chung, để cả thôn cùng hưởng” - ông Triệu Văn Thọ cho biết thêm. Tinh thần cộng đồng ấy giúp Vàng Ngần giữ được sự gắn kết trong quá trình phát triển.

Với từng hộ gia đình, quế vẫn là “của để dành”. Nhiều hộ có vài ha quế, mỗi năm khai thác một phần, vừa có thu nhập trước mắt, vừa tích lũy lâu dài. Cây quế vì thế không chỉ xóa nghèo cho từng hộ, mà còn nuôi dưỡng ước mơ học hành của con cái, sửa lại căn nhà cũ, mua thêm trâu, bò.

Tuy nhiên, chỉ dựa vào quế là chưa đủ. Năm 2025, người dân đã cùng nhau khai hoang thêm 10 ha ruộng nước, đưa vào cấy hai vụ. Những thửa ruộng mới dưới chân núi, nơi trước kia là đất hoang, cỏ dại mọc um tùm. Công sức bỏ ra không nhỏ: phát dọn, be bờ, dẫn nước. Nhưng khi lúa lên xanh, ai cũng thấy xứng đáng. Mỗi vụ lúa là thêm một phần yên tâm cho bữa cơm trong nhà, giảm bớt phụ thuộc vào thị trường.

Việc mở rộng ruộng nước còn giúp thay đổi tập quán canh tác. Người dân chú ý hơn đến giống, thời vụ, chăm bón. Chính quyền xã, cán bộ khuyến nông cũng thường xuyên xuống hướng dẫn kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh. Sự hỗ trợ ấy không ồn ào, nhưng góp phần nâng cao năng suất từng vụ.

Song song với trồng trọt, chăn nuôi ở Vàng Ngần cũng đang có sự thay đổi. Trước đây, gia súc chủ yếu thả rông, chuồng trại tạm bợ, dễ phát sinh dịch bệnh, chết rét vào mùa đông.

Từ các buổi tuyên truyền, vận động, người dân dần thay đổi. Nhiều hộ đã làm chuồng trại kiên cố, có nền xi măng, hệ thống thoát nước, che chắn gió lạnh. Rơm, cỏ được dự trữ từ sớm. Ở vùng cao, chỉ vài đêm sương muối cũng có thể khiến trâu bò suy kiệt nếu chủ quan. Bởi vậy, chăm sóc đàn vật nuôi giờ được coi là việc lớn.

Cuối năm 2025, 11 hộ trong thôn được hỗ trợ bò sinh sản từ Chương trình mục tiêu quốc gia, mỗi hộ 3 con, tổng cộng 33 con bò.

Ông Triệu Trung Hiện - một trong những người nhận hỗ trợ bò cho biết: Có bò rồi thì phải cố chăm cho tốt, không để ốm đau, không để chết. Đó không chỉ là con giống, mà là vốn để tính chuyện lâu dài.

Bà Đặng Thị Lai - hộ nghèo cũng không giấu được niềm vui khi nhận bò. “Có con giống rồi, tôi sẽ trồng thêm cỏ voi, chăm cho bò sinh sản. Chỉ cần chịu khó làm ăn, cái nghèo, cái khó sẽ đi qua” - bà Lai chia sẻ.

Sự chuyển biến ở Vàng Ngần không chỉ ở phát triển kinh tế. Cùng với sinh kế, nhận thức của người dân cũng dần thay đổi. Trẻ em được đến trường; những hủ tục như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống được đẩy lùi.

Các buổi sinh hoạt cộng đồng không chỉ bàn chuyện làm đường, trồng quế, nuôi bò, mà còn nói về giữ gìn tiếng nói, trang phục, phong tục của dân tộc Dao. Phát triển kinh tế gắn với giữ bản sắc là điều bà con luôn nhắc đến.

Theo ông Triệu Văn Thọ, điều quan trọng nhất là người dân không còn trông chờ, ỷ lại. Hỗ trợ của Nhà nước là “cần câu”, còn phát triển kinh tế được hay không phụ thuộc vào sự cố gắng của từng hộ. Thôn không đặt mục tiêu thoát nghèo cho đủ chỉ tiêu, mà hướng đến cuộc sống ổn định, bền vững.

Vàng Ngần hôm nay vẫn còn nhiều khó khăn nhưng trong nhịp sống chậm rãi ấy đã có những chuyển động tích cực, tạo thành bức tranh đổi thay của thôn vùng cao đang từng bước thoát nghèo. Hành trình phía trước còn dài nhưng từ những việc làm cụ thể, từ sự đồng thuận của cộng đồng, từ quyết tâm của từng hộ gia đình cái nghèo sẽ dần lùi lại phía sau.

Trình bày: Thủy Thanh

Hoàng Anh Dũng

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/chuyen-thoat-ngheo-o-vang-ngan-post894450.html