Chuyển từ nghiên cứu sang làm chủ công nghệ biển - Bài 2: Làm chủ công nghệ để làm chủ không gian biển
Khi hoạt động kinh tế vươn ra xa bờ, xuống vùng biển sâu, công nghệ không còn chỉ là công cụ hỗ trợ mà trở thành điều kiện để mở rộng khả năng hoạt động của con người trên biển. Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ sử dụng sang làm chủ công nghệ, từng bước tạo ra năng lực chủ động cho không gian biển.

Khoa học công nghệ là nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
Từng bước làm chủ
Ở vùng biển sâu, xa bờ hay tại các công trình ngoài khơi, con người khó có thể thường xuyên hiện diện. Robot, thiết bị tự hành và hệ thống điều khiển từ xa vì thế ngày càng trở thành công cụ quan trọng, giúp mở rộng khả năng khảo sát, kiểm tra và vận hành trên biển. Tuy nhiên, sở hữu thiết bị hiện đại mới chỉ là bước đầu. Phía sau đó còn là năng lực về cảm biến, định vị, điều khiển, phần mềm, tích hợp và xử lý các tình huống phát sinh.

Phát triển khoa học công nghệ biển làm nền tảng cho tiếp thu, làm chủ công nghệ tiên tiến.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) Vũ Hải Quân nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng của các nhiệm vụ KHCN biển là Việt Nam làm chủ được công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành năng lực quốc gia nào. Làm chủ vì vậy không nhất thiết là tự chế tạo mọi thiết bị, mà phải có khả năng vận hành, bảo trì, cải tiến và từng bước phát triển những giải pháp phù hợp với điều kiện trong nước.
Theo ông Đào Xuân Kỳ - Phó Giám đốc phụ trách Sở KHCN tỉnh Khánh Hòa, địa phương đang định hướng ưu tiên các công nghệ gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển kinh tế biển, trong đó có thiết bị ROV phục vụ điều tra biển sâu, tự động hóa chế biến thủy sản, vaccine thủy sản và công nghệ thiết kế, mô phỏng kết cấu điện gió ngoài khơi.
Những hướng đi này cho thấy yêu cầu về công nghệ đang chuyển từ những ứng dụng riêng lẻ sang các giải pháp gắn với hoạt động thực tế trên biển. Công nghệ phải giải quyết được một bài toán cụ thể và có khả năng vận hành trong điều kiện thực tế.
Dù vậy, khoảng cách từ một ý tưởng nghiên cứu đến một công nghệ có thể hoạt động ổn định ngoài biển không nhỏ. Khi đưa xuống biển, thiết bị phải đối mặt với sóng, gió, áp suất, ăn mòn, khả năng kết nối và xử lý sự cố ở khoảng cách xa đất liền.
Đại tá, TS Phạm Duy Nam - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga (Bộ Quốc phòng) cho rằng Việt Nam cần có những khu vực thử nghiệm công nghệ trên biển, đảo để robot, vật liệu và thiết bị mới được vận hành trong điều kiện thực tế, qua đó đánh giá và hoàn thiện sản phẩm trước khi ứng dụng rộng rãi. Với công nghệ biển, “bãi thử” không chỉ là nơi kiểm tra một thiết bị có hoạt động hay không, mà còn giúp xác định độ bền, khả năng vận hành dài ngày, chi phí bảo trì, khả năng tích hợp và mức độ phù hợp với điều kiện thực tế.
Còn theo chia sẻ của TS Trần Quốc Cường - Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên (Bộ KHCN), các nhiệm vụ KHCN biển cần được tổ chức thành những “đơn hàng công nghệ lớn”, kết nối viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương, tạo ra sản phẩm có thể kiểm chứng, ứng dụng và thương mại hóa.
Trong chuỗi đó, doanh nghiệp cần tham gia sớm hơn. Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa; địa phương cũng cần chủ động xác định nhu cầu, tổ chức thử nghiệm và tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ biển.
Tích lũy công nghệ từ những công trình ngoài khơi
Trong thực tế, ngành dầu khí ngoài khơi là một trong những lĩnh vực cho thấy rõ quá trình tích lũy và làm chủ công nghệ của Việt Nam.
Theo Petrovietnam, qua nhiều thế hệ dự án, các đơn vị trong Tập đoàn đã từng bước hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt, đấu nối và chạy thử các công trình biển. Dự án Biển Đông 01 tại khu vực nước sâu, xa bờ từng đặt ra những yêu cầu chưa có tiền lệ ở Việt Nam về thiết kế, chế tạo kết cấu siêu trường, siêu trọng và lắp đặt ngoài khơi. Khoảng 90% khối lượng công việc của dự án được thực hiện trong nước.
Điều quan trọng không chỉ nằm ở một công trình hoàn thành. Quá trình đó tạo ra năng lực kỹ thuật, đội ngũ kỹ sư, năng lực quản lý dự án và chuỗi cung ứng trong nước, trở thành nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục tham gia những dự án phức tạp hơn.
Trước đó, Việt Nam cũng đạt kết quả đáng chú ý trong thiết kế, chế tạo giàn khoan tự nâng. Công trình nghiên cứu thiết kế chi tiết và ứng dụng công nghệ chế tạo, lắp ráp, hạ thủy giàn khoan tự nâng ở độ sâu 90m nước đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN, đưa Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia làm chủ công nghệ thiết kế chi tiết và chế tạo loại giàn khoan này theo tiêu chuẩn quốc tế.
Những trường hợp như vậy cho thấy công nghệ không trưởng thành trong một dự án đơn lẻ. Một dự án có thể là nơi bắt đầu, nhưng năng lực chỉ thực sự hình thành khi kinh nghiệm được tích lũy và chuyển sang những dự án tiếp theo. Nếu công nghệ, quy trình, tiêu chuẩn, đội ngũ và chuỗi cung ứng cùng được tích lũy, mỗi công trình sẽ trở thành một bước nâng năng lực của cả ngành.
Cần đủ năng lực để không bị động
Trong nuôi biển, quá trình này đang diễn ra theo một hướng khác. Khi sản xuất chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang nuôi biển công nghiệp, công nghệ không chỉ nằm ở chiếc lồng nuôi mà trải rộng từ con giống, thức ăn, kiểm soát môi trường nước, cảnh báo dịch bệnh đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc.
Tại Quảng Ninh, tỉnh đang định hướng tổ chức lại nuôi biển theo quy mô tập trung, công nghiệp, ứng dụng KHCN và gắn với hệ thống hạ tầng, dịch vụ hậu cần, chế biến, tiêu thụ. Đề án phát triển nuôi biển của tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa vào khai thác khoảng 29.000ha nuôi biển, sản lượng khoảng 200.000 tấn, giá trị sản xuất 12.800 tỷ đồng.
Ở Khánh Hòa, việc chuyển từ lồng bè gỗ truyền thống sang lồng HDPE cũng cho thấy công nghệ đang thay đổi phương thức sản xuất trên biển. Khi quy mô nuôi mở rộng và tiến xa hơn, yêu cầu về vật liệu, độ bền, quản lý môi trường và tự động hóa sẽ ngày càng cao.
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng - Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng để nuôi biển trở thành ngành sản xuất quy mô lớn, ngoài công nghệ còn phải đồng thời giải quyết các vấn đề về quy hoạch, vốn, hạ tầng và tổ chức sản xuất.
Với điện gió ngoài khơi, yêu cầu này còn rõ hơn. Từ khảo sát, thiết kế móng, chế tạo kết cấu, lắp đặt, cáp ngầm đến vận hành và bảo dưỡng, mỗi khâu đều đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Nếu chỉ nhập khẩu thiết bị và thuê công nghệ, Việt Nam có thể triển khai dự án nhưng chưa chắc hình thành được năng lực công nghiệp dài hạn.
Ngược lại, nếu mỗi dự án trở thành một quá trình chuyển giao, học hỏi, nội địa hóa từng phần và phát triển chuỗi cung ứng, năng lực công nghệ trong nước sẽ được tích lũy theo thời gian. Từ đó, yêu cầu “làm chủ công nghệ” cần được nhìn như một quá trình dài hạn. Việt Nam không nhất thiết phải tự phát triển tất cả công nghệ, nhưng cần xác định rõ những công nghệ có ý nghĩa chiến lược đối với hoạt động trên biển, những khâu nếu thiếu sẽ tạo ra sự phụ thuộc lớn, để tập trung nguồn lực.
Đó có thể là robot và phương tiện không người lái, công nghệ khảo sát biển sâu, công nghệ công trình ngoài khơi, năng lượng biển, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ sinh học biển, quan trắc và giám sát, cũng như các công nghệ lưỡng dụng phục vụ kinh tế, môi trường, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng và an ninh.
Ở mỗi lĩnh vực, mức độ làm chủ có thể khác nhau: có công nghệ cần tiến tới tự thiết kế, chế tạo; có công nghệ cần làm chủ khâu tích hợp, vận hành và bảo trì; cũng có công nghệ cần tập trung vào khả năng cải tiến để giảm phụ thuộc vào một nhà cung cấp. Điều quan trọng là hình thành được chuỗi liên tục từ nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện đến sản xuất, vận hành và cải tiến. Khi một công nghệ được phát triển từ những bài toán thực tế của Việt Nam, doanh nghiệp có thể tiếp nhận và thương mại hóa, mỗi dự án sẽ tạo thêm một lớp năng lực cho ngành.
Làm chủ công nghệ vì thế không phải là tự làm tất cả, mà là có đủ năng lực để không bị động trước những công nghệ quyết định khả năng hiện diện và phát triển trên biển.
Một trong 15 bài toán lớn: Đột phá điều tra, nghiên cứu biển sâu
“Khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái, môi trường biển; đột phá điều tra, nghiên cứu biển sâu” được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định là một trong 15 bài toán lớn về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bài toán này đặt ra yêu cầu phát triển công nghệ phục vụ điều tra, nghiên cứu và giám sát biển sâu; đồng thời làm chủ ứng dụng AI, Big Data, IoT trong quan trắc, giám sát, dự báo và cảnh báo.
Việc xác định điều tra, nghiên cứu biển sâu là một bài toán lớn cho thấy công nghệ biển không chỉ phục vụ một ngành kinh tế cụ thể mà còn là năng lực nền tảng để Việt Nam chủ động hơn trong nghiên cứu, khai thác, quản trị và bảo vệ không gian biển.
(Còn nữa)
