Chuyển từ tư duy thu hút FDI sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia

Cách đây gần 7 năm, ngày 20/8/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Nghị quyết đặt ra yêu cầu 'chủ động thu hút hợp tác FDI có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường làm tiêu chí đánh giá chủ yếu'.

Đây là tiền đề quan trọng cho quá trình chuyển từ cách tiếp cận dựa nhiều vào số lượng dự án, quy mô vốn đăng ký sang chú trọng hơn đến chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài trên quy mô quốc gia cũng như tại các địa phương.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ban hành ngày 8/6/2026, là sự tiếp nối logic và nhất quán của Nghị quyết 50, nhưng với tư duy sát hợp hơn với thực tế thay đổi của đất nước. Điểm cốt lõi là chuyển mạnh từ tư duy thu hút FDI sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi đầu vào như thuế, tiền thuê đất sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết.

Bối cảnh mới, cơ hội mới

Việc chuyển đổi mô hình hành chính quy mô lớn, sắp xếp lại đơn vị hành chính và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp là thay đổi có tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư. Khi không gian phát triển được mở rộng, các địa phương có quy mô lớn hơn sẽ có điều kiện kết nối giao thông, logistics, hạ tầng khu công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ đầu tư theo quy mô đồng bộ hơn, thay vì manh mún, nhỏ lẻ như trước đây.

Môi trường thu hút FDI vì vậy có thể được cải thiện nhờ giảm chi phí tuân thủ, tinh gọn thủ tục đầu tư, xây dựng, môi trường; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tiết kiệm chi phí cơ hội và thời gian chờ đợi của nhà đầu tư nước ngoài. Không gian quy hoạch được mở rộng cũng tạo điều kiện hình thành chuỗi cung ứng liền mạch, giúp các tập đoàn đa quốc gia thiết lập hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ.

Chuyển đổi mô hình đã và sẽ làm tinh gọn bộ máy và tối ưu hóa nguồn lực. Mô hình chính quyền 2 cấp giúp loại bỏ các khâu trung gian. Đồng thời, việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ xuống cơ sở giúp các nút thắt về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, cung ứng điện, nước, cung ứng dịch vụ internet và xử lý nước, rác thải… (trong các khu công nghiệp và dự án đơn lẻ) được xử lý nhanh chóng, khơi thông nguồn lực tại chỗ một cách có hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút thêm vốn, mà là nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài, gắn với chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, gia tăng hàm lượng R&D và phát triển nhà cung ứng trong nước. Để thực hiện được các yêu cầu này, có 3 việc cần làm ngay: sớm nâng mức nghiên cứu và phát triển (R&D) trong GDP; nâng cao hiệu quả, đổi mới hoạt động và cơ quan xúc tiến đầu tư; đồng thời vận hành, quản trị hiệu quả giữa Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương.

Ông Lê Hữu Quang Huy, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA)

Ông Lê Hữu Quang Huy, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA)

Sớm nâng mức nghiên cứu và phát triển trong GDP

Nghị quyết 10-NQ/TW định vị khu vực FDI là một mắt xích cốt lõi để đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và điều hành của khu vực. Vì vậy, nâng mức nghiên cứu và phát triển trong GDP thông qua khu vực doanh nghiệp FDI cần được xem là một nhiệm vụ ưu tiên.

Thực tế thế giới chỉ ra rằng, tỷ lệ R&D trong GDP càng cao thì tốc độ phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật và đổi mới sáng tạo của quốc gia đó càng có cơ sở để tăng nhanh và bền vững. Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Israel và Hàn Quốc là hai quốc gia dẫn đầu thế giới với tỷ lệ chi cho R&D lần lượt khoảng 6,3% và 5,0% GDP; thứ hạng R&D tiếp theo là Đài Loan (Trung Quốc) 3,8%, Mỹ 3,5%, Nhật Bản 3,4%, Thụy Sĩ 3,35%, Trung Quốc khoảng 2,68% GDP, Singapore khoảng 2,0%..., trong khi Việt Nam mới ở mức khoảng 0,4-0,53% GDP. Do vậy, để bứt phá và thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần đặt mục tiêu cho R&D ít nhất 2% GDP trong các năm tới.

Để trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy tỷ trọng R&D trong GDP, trước hết cần ưu tiên dòng vốn công nghệ lõi, tập trung vào các nhà đầu tư sở hữu công nghệ nền tảng, công nghệ nguồn, nhất là trong các lĩnh vực như công nghiệp bán dẫn, AI và dữ liệu lớn. Đây có thể là các tập đoàn lớn, nhưng cũng có thể là doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước ngoài nếu sở hữu công nghệ chuyên biệt, có hàm lượng R&D cao và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với đó, cần xây dựng hệ sinh thái thu hút nhân tài toàn cầu, rà soát, đơn giản hóa các thủ tục về visa, xuất nhập cảnh, thời gian lưu trú và giấy phép lao động đối với chuyên gia công nghệ cao, nhà khoa học, nhà sáng lập nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có năng lực phù hợp. Đồng thời, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối nội-ngoại. Cần xây dựng sớm Chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước. Khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, hợp tác, đủ năng lực để tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ khối FDI, từ đó nâng cao năng lực hấp thụ và thực hiện R&D của khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Nâng cao hiệu quả, đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư

Nghị quyết 10 đánh dấu bước chuyển dịch từ tư duy “chờ đợi nhà đầu tư” sang chủ động, kiến tạo, hợp tác và săn đón các đối tác chiến lược. Điều này đòi hỏi công tác xúc tiến đầu tư phải được đổi mới căn bản, từ cách làm, công cụ đến mô hình tổ chức.

Trước hết, cần chuyển từ xúc tiến dàn trải sang xúc tiến chuyên biệt. Thay vì quảng bá đại trà, cần tiếp cận, vận động và đàm phán có mục tiêu với các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu, các định chế tài chính và quỹ đầu tư lớn.

Thứ hai, xúc tiến đầu tư phải dựa trên dữ liệu. Việt Nam cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về các nhà đầu tư chiến lược, thiết lập phương án tiếp cận chuyên biệt (may đo – customize) cho từng thị trường, từng quốc gia, vùng lãnh thổ và từng phân khúc ngành.

Thứ ba, cần đẩy mạnh công tác “xúc tiến đầu tư tại chỗ”. Theo đó, cần coi trọng việc đồng hành, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án hiện hữu, khuyến khích nhà đầu tư mở rộng quy mô chất lượng cao, giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế. Đây là một trong những giải pháp tạo niềm tin thực tế nhất cho thu hút FDI toàn cầu. Đúng như câu thành ngữ: “Thà giữ một con chim trong tay còn hơn là một đàn chim trên trời”.

Cùng với đó, một vấn đề cần được xem xét là thành lập Cơ quan xúc tiến đầu tư chuyên trách theo chuẩn mực quốc tế (IPA). Sau gần 4 thập kỷ thu hút, quản lý và sử dụng FDI, Việt Nam chưa có một cơ quan xúc tiến đầu tư tầm quốc gia đúng nghĩa, phù hợp với thông lệ quốc tế. Cho đến nay, mô hình hoạt động của cơ quan này chủ yếu dưới dạng các “trung tâm xúc tiến đầu tư” ở Trung ương, địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh thu hút FDI đang thay đổi về chất, việc thành lập một IPA chuyên trách, độc lập và theo chuẩn mực quốc tế là rất cần thiết.

Kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan - được đánh giá là những hình mẫu thành công nhất của khu vực ASEAN cho thấy, đặc điểm chung cốt lõi của hai quốc gia này là xây dựng một cơ quan đầu mối quốc gia duy nhất, sở hữu thẩm quyền vượt trội và vận hành theo triết lý “đối tác chiến lược” của doanh nghiệp.

Với Việt Nam, việc thành lập một Cơ quan xúc tiến đầu tư quốc gia (IPA) sẽ chấm dứt sự phân mảnh, chia cắt giữa thẩm quyền Bộ Tài chính và từng địa phương. Một IPA quốc gia sẽ đóng vai trò đầu mối duy nhất trong hoạch định chiến lược thu hút đầu tư quốc gia trong giai đoạn “chuyển mình của đất nước”. Nhờ đó, nâng cấp và chuyên nghiệp hóa công tác tiếp thị, sở hữu đội ngũ chuyên gia có năng lực đàm phán cao, am hiểu thị trường và các mục tiêu, dự án, đối tác cần thu hút theo yêu cầu phát triển kinh tế đất nước từng thời kỳ. Đồng thời, xử lý thông suốt và không chậm trễ các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, ưu đãi thuế, xử lý tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, với Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu thương mại tự do và/ hoặc cơ quan quản lý tại địa phương, nếu có…

IPA nên trực thuộc Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, có tính độc lập pháp lý tương đối để thuận lợi và đủ thẩm quyền điều phối các bộ, ban, ngành và UBND các địa phương nơi có dự án đầu tư hoạt động. Nhờ đó, sẽ tập trung thu hút đầu tư có chọn lọc, chất lượng cao, công nghệ lõi và gắn với các cam kết phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu. Quá trình làm việc của IPA sẽ được số hóa, thúc đẩy liên kết vùng, xây dựng cổng thông tin quốc gia tích hợp dữ liệu, cung cấp các dịch vụ điện tử để các nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng tra cứu, giải đáp thắc mắc, nộp hồ sơ và được hỗ trợ trực tuyến… phù hợp với cách làm và thông lệ quốc tế.

Vai trò vận hành và quản trị của Trung ương và chính quyền địa phương

Nghị quyết 10 phân định lại vai trò của các cấp hành chính theo hướng: Trung ương kiến tạo thể chế số, thiết kế công cụ và điều phối chiến lược; địa phương chịu trách nhiệm thực thi đồng bộ, đồng hành với nhà đầu tư tại cơ sở. Cơ chế này áp dụng cho cả 3 hình thái hoạt động FDI, gồm nghiên cứu, sản xuất, cung ứng dịch vụ.

Trong đó, vai trò thống nhất thể chế và thiết kế công cụ thuộc Chính phủ Trung ương (thuộc cơ quan IPA), áp dụng số hóa toàn bộ quá trình xem xét, thẩm định, cấp phép, quản lý hoạt động và xử lý tranh chấp nếu có của dự án đầu tư.

Như vậy, cần sớm ban hành và tổ chức thực hiện bộ tiêu chí hiệu quả kinh tế của dòng vốn FDI. Trung ương nắm vai trò điều tiết vĩ mô, tăng cường phòng chống chuyển giá, gian lận thương mại và thu hồi các ưu đãi đầu tư đối với các dự án không đáp ứng đủ yêu cầu chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn sản phẩm hoặc gây ô nhiễm môi trường…

Ở cấp địa phương, cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang “đồng hành chiến lược” với nhà đầu tư, từ cấp phép, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị hạ tầng đồng bộ đến cung ứng lao động, đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà đầu tư... Địa phương cũng cần chủ động thúc đẩy liên kết vùng, phối hợp xây dựng chuỗi cung ứng khép kín, đưa doanh nghiệp nội địa tham gia mạng lưới sản xuất, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp FDI hoạt động và có trụ sở tại địa bàn.

Có thể khẳng định với niềm tin chắc chắn rằng, với Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị lần này, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm), là rất thực tế, khả thi và hoàn toàn có thể trở thành hiện thực trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai đoạn 2026-2030.

Lê Hữu Quang Huy

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/chuyen-tu-tu-duy-thu-hut-fdi-sang-phat-trien-nen-tang-dau-tu-chien-luoc-quoc-gia-183552.html