Cô giáo như mẹ hiền
Ngày học lớp 2 trường làng, tôi rất hạnh phúc vì được học với một cô giáo đã yêu thương tôi như người mẹ hiền thương con. Được cô giáo an ủi, động viên, chia sẻ, tuổi thơ của tôi như có ánh nắng ấm áp giữa những ngày mưa bão. Niềm hạnh phúc ấy vẫn luôn in đậm trong ký ức tôi.
Cô giáo tôi có cái tên thật đằm thắm - Nguyễn Thị Nhung. Mới ngoài 20 tuổi, cô rời vùng đất Long Khánh, tỉnh Đồng Nai lên Tây Nguyên quê tôi để dạy học. Hình ảnh cô Nhung trong trí nhớ tôi là cô gái xinh đẹp, duyên dáng trong chiếc áo dài màu xanh lá. Dáng cô cao cao, thon thả, khuôn mặt dịu dàng. Giọng cô nhẹ nhàng mà thấm ngọt. Cả lớp chúng tôi, những đứa trẻ thôn quê cứ tròn xoe mắt, say sưa nghe lời cô giảng. Tuy nhiên, ấn tượng đọng mãi trong tôi là ở vẻ đẹp nhân hậu trong trái tim cô.
Ngôi trường tiểu học ở làng tôi ngày ấy rất đơn sơ, chỉ có một dãy 5 phòng học. Sân trường đất đỏ có 2 cây hoa sứ trắng, vài cây khuynh diệp và mấy cây hoa phượng đỏ nhưng nơi ấy chất chứa bao kỷ niệm của tuổi thơ tôi. Khối lớp 2 chúng tôi phải học ca chiều. Đúng 13 giờ là vào lớp nhưng ngay từ đầu năm học, tôi đã đi học trễ. Giữa không gian vắng lặng của xóm núi, tôi nghe tiếng trống vào lớp vẳng lại, tha thiết, thôi thúc nhưng trên tay tôi còn đứa em nhỏ gần 1 tuổi. Tôi không thể bỏ em ở nhà một mình được. Mẹ đi làm chưa về, nước mắt tôi ngân ngấn.
Rồi mẹ cũng xuất hiện ở cổng, hớt hải bước vào nhà. Tôi vội trao em cho mẹ rồi lấy cặp sách, rảo bước đến trường. Chạy thật nhanh, nước mắt tôi chực trào. Con đường tôi đến trường không có hoa nở bướm bay, chỉ có nước mắt của tôi và nỗi lo sợ bị cô giáo trách phạt.
Tôi khựng lại ở cửa lớp, nước mắt vẫn nhòe trên khuôn mặt. Cô Nhung nhìn đồng hồ rồi hỏi tôi: “Sao em đi học trễ thế?” - “Dạ …”. Tôi ngập ngừng, cô nói tiếp: “Đã vào học rất lâu rồi. Em đến trễ, còn khóc nữa”? Tôi vẫn khóc. Có lẽ cô giáo nghĩ học trò có điều khó nói nên vội bước ra cửa và dẫn tôi vào lớp. Giờ ra chơi, đến bên tôi, cô nhẹ nhàng hỏi chuyện. Tôi khóc òa và nghẹn ngào: “Mẹ… mẹ em… đi làm về trễ. Em… em phải bế em nhỏ”. Ôm tôi vào lòng, lau nước mắt cho tôi, cô vỗ về: “Cô hiểu rồi”. Tôi kể cho cô nghe, rằng có những ngày mẹ đi làm thuê, chủ cho về thì mới về được. Nơi mẹ làm có khi xa nhà nên mẹ không về kịp. Thế là năm học lớp 2, những khi tôi đi học trễ, cô Nhung chẳng bao giờ trách phạt tôi. Trễ học nên tôi phải chạy từ nhà đến trường gần 1 cây số. Hôm trời nắng chang chang thì mồ hôi tôi nhễ nhại, ngày trời mưa thì người tôi ướt nhẹp. Và dù nắng hay mưa, cô Nhung cũng đều lấy khăn lau mặt cho tôi.
Ngày ấy, lên lớp 2, học sinh được làm toán đố. Ngày nào cô cũng cho lớp mấy đề toán, học sinh ai giải bài xong trước thì lên bàn cô nộp. Tôi thường nộp bài sớm nhất lớp. Mỗi khi tôi lên nộp bài, cô hay giúi cho tôi 1-2 viên kẹo nhỏ. Cả năm học lớp 2, tôi đã nhận của cô rất nhiều kẹo và thỉnh thoảng tôi mới ăn, còn lại mang về cho 2 đứa em. Mấy mươi năm đã trôi qua nhưng những viên kẹo yêu thương của cô Nhung ngày ấy vẫn là niềm ngọt ngào trong cuộc đời tôi.
Cũng từ những câu chuyện cổ tích cô Nhung kể cho lớp nghe, mà từ lúc 7 tuổi tôi đã có niềm tin rằng những người hiền lành và chăm chỉ lao động như cô Tấm rồi sẽ được sống no đủ, hạnh phúc. Cô Nhung đã gieo những ước mơ thiện lành vào tuổi thơ còn nhiều thiếu thốn của tôi.
Nếu ví cuộc đời của mỗi người như một bản nhạc thì từ nốt trầm của tuổi thơ tôi lam lũ, cô giáo Nhung đã gửi vào tôi những nốt nhạc thật dịu êm và tươi tắn. Sau này, tôi trở thành cô giáo dạy Ngữ văn, khi giảng đến những câu chuyện cổ tích cho các em học sinh, trái tim tôi lại thương nhớ về một thời thơ ấu có cô Nhung - người mẹ dịu hiền thứ 2 của tôi.
Bao năm đã trôi qua… ở một nơi nào đó rất xa, cô có biết em vẫn nhớ và tri ân cô rất nhiều!











