Cơ hội phát triển kinh tế hợp tác xã bền vững và những yêu cầu đổi mới
Trong tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, kinh tế hợp tác xã đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tại Tây Ninh.
Thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, giống, vật tư và xúc tiến thương mại. Các hợp tác xã không chỉ giúp nông dân tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô, bài bản, mà còn đóng vai trò "cầu nối" liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất với doanh nghiệp, thị trường và các tiến bộ khoa học công nghệ. Qua đó, góp phần nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra và cải thiện thu nhập cho thành viên.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh khảo sát thực tế mô hình tưới tiêu thông minh bằng năng lượng mặt trời, tại xã Tân Châu.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng cho thấy nhiều hợp tác xã vẫn còn hạn chế về quy mô, năng lực quản trị và khả năng thích ứng thị trường, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động và tăng cường liên kết chuỗi để phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Liên kết để nâng giá trị
Thực tế tại Tây Ninh cho thấy, nhiều hợp tác xã đã không còn vận hành theo mô hình bao cấp cũ mà đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, chủ động liên kết sản xuất – tiêu thụ, hình thành chuỗi giá trị và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản. Đây được xem là hướng đi tất yếu, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Thu Nguyên (xã An Lục Long) là một trong những mô hình tiêu biểu. Ông Trần Hùng Cường, Giám đốc hợp tác xã cho biết, mô hình hợp tác xã giúp người nông dân sản xuất nhỏ lẻ không bị thương lái ép giá. Khi liên kết lại, hợp tác xã có thể tạo ra sản lượng lớn, chủ động định giá sản phẩm và xây dựng chuỗi giá trị bền vững. Hướng đi của hợp tác xã không chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng suất mà còn chuyển sang sản xuất sạch, sản xuất hữu cơ. Hiện đơn vị đã triển khai 5 ha thanh long hữu cơ với giá bán ổn định 25.000 đồng/kg, xuất khẩu sang thị trường Hà Lan, đồng thời định hướng mở rộng lên khoảng 25 ha trong thời gian tới. Điều này cho thấy khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu thị trường và xu hướng tiêu dùng xanh.
Ở lĩnh vực thương mại - dịch vụ, Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Đồng Tâm (phường Tân Ninh) là minh chứng cho sự thích ứng linh hoạt với thị trường. Thành lập từ năm 2006, hợp tác xã hiện có 18 thành viên chính thức và hơn 1.000 thành viên liên kết. Hội đồng quản trị chủ động ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp, tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động.
Ông Hoàng Sỹ Hoan, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, cho biết, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, đơn vị luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới phương tiện và nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ lái xe. Theo ông, việc đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng là yếu tố sống còn để hợp tác xã duy trì và phát triển bền vững.

Vườn na hữu cơ tại xã Tân Hưng, tỉnh Tây Ninh được duy trì tưới nước thường xuyên bằng hệ thống tưới nước tiết kiệm.
Trong khi đó, Hợp tác xã Dịch Vụ Nông Nghiệp Minh Trung (xã Tân Hưng) đang tiên phong trong chuyển đổi xanh, phát triển sản xuất hữu cơ gắn với du lịch nông nghiệp. Theo ông Lê Minh Trung, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc hợp tác xã, sản xuất hữu cơ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng tiêu thụ. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong kiểm soát sâu bệnh và hoàn thiện quy trình kỹ thuật.
Dù vậy, thực tế thị trường cho thấy nhu cầu đối với nông sản sạch, nông sản hữu cơ là rất lớn, thậm chí trong nhiều thời điểm "không đủ cung". Điều này mở ra dư địa phát triển rất lớn nếu các hợp tác xã tổ chức sản xuất bài bản, theo tiêu chuẩn và có sự liên kết chặt chẽ.
Từ những mô hình thực tiễn có thể thấy, khi thay đổi tư duy, chủ động liên kết và vận hành theo cơ chế thị trường, hợp tác xã không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn trở thành cầu nối quan trọng giữa nông dân với doanh nghiệp, giữa sản xuất với thị trường, góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển.
Nâng chất thay vì chạy theo số lượng
Theo thống kê, hợp tác xã nông nghiệp chiếm khoảng 70% tổng số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh, với tổng vốn điều lệ trên 397 tỷ đồng và hơn 10.690 thành viên. Doanh thu bình quân đạt gần 1,5 tỷ đồng/hợp tác xã, lợi nhuận bình quân khoảng 165 triệu đồng/năm. Khu vực kinh tế tập thể đóng góp từ 9 – 9,5% GDP của tỉnh năm 2025, đồng thời cung ứng từ 18 – 32% lượng lương thực, thực phẩm cho thị trường.
Đặc biệt, trong chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), Tây Ninh có 407 sản phẩm; trong đó hơn 50% chủ thể là các hợp tác xã. Những con số này cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của kinh tế hợp tác trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, ông Trương Tấn Đạt, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh cho biết, bên cạnh những kết quả tích cực, khu vực hợp tác xã vẫn còn nhiều hạn chế. Toàn tỉnh có 370 hợp tác xã, nhưng chỉ khoảng 45,4% hoạt động hiệu quả. Quy mô còn nhỏ, năng lực quản trị hạn chế, thiếu nhân lực chất lượng cao, khó tiếp cận vốn và thị trường; việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu còn nhiều bất cập... là những tồn tại lớn.
Nguyên nhân chủ yếu là do nội lực hợp tác xã còn yếu, công tác đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn lực hỗ trợ còn phân tán và một số nơi còn mang tính hình thức trong thành lập hợp tác xã.
Trước thực tế đó, ngành nông nghiệp tỉnh xác định nhiều giải pháp trọng tâm như phát triển hợp tác xã theo hướng hiệu quả, bền vững gắn với thị trường; củng cố hoặc giải thể các hợp tác xã yếu kém; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số; nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ đang được triển khai đồng bộ, trong đó có nghị quyết mới của Hội đồng nhân dân tỉnh về hỗ trợ liên kết sản xuất - tiêu thụ, với nhiều nội dung như hỗ trợ giống, vật tư, xây dựng thương hiệu, bao bì, ứng dụng công nghệ và tư vấn dự án.
Theo đánh giá của các hợp tác xã, dù chính sách đã có nhưng vẫn cần điều chỉnh sát thực tế hơn, đặc biệt về định mức hỗ trợ, giá vật tư và cơ chế tiếp cận. Đồng thời, nhu cầu về đào tạo kỹ thuật, nhất là sản xuất hữu cơ và chuyển đổi xanh, cần được tổ chức linh hoạt, gần với thực tiễn của nông dân.
Trước hết là đổi mới tư duy từ "sản xuất nông nghiệp" sang "kinh tế nông nghiệp", lấy thị trường làm trung tâm. Hợp tác xã cần chủ động liên kết với doanh nghiệp, xây dựng vùng nguyên liệu lớn, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng để hướng tới xuất khẩu, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, sản xuất hữu cơ, giảm phát thải gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn và du lịch nông nghiệp. Đây không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu bắt buộc để nâng cao giá trị sản phẩm.

Nông dân trồng sắn xã Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh sử dụng máy bơm chạy dầu diesel để bơm nước tưới vào mùa khô.
Cùng với đó là, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là yếu tố then chốt. Đồng thời, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ; hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng thực chất, dễ tiếp cận, sát với nhu cầu của hợp tác xã và người dân; tăng cường vai trò của các viện, trường trong hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật.
Theo bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, giai đoạn 2026 – 2030 cần lấy việc củng cố hợp tác xã làm nhiệm vụ trung tâm, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng và hiệu quả. Đồng thời, đào tạo phải gắn với nhu cầu thực tế, tập trung vào quản trị, tài chính, pháp lý, chuyển đổi số và quản trị rủi ro.
Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò cầu nối giữa hợp tác xã với doanh nghiệp và thị trường, coi liên kết chuỗi giá trị là giải pháp then chốt nâng cao sức cạnh tranh.
Với nền tảng sẵn có cùng sự quan tâm của các cấp, ngành và chính sách hỗ trợ ngày càng hoàn thiện, kinh tế hợp tác xã tại Tây Ninh đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, để thực sự trở thành trụ cột của kinh tế tư nhân, khu vực này cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản trị, nâng cao chất lượng hoạt động và gắn chặt hơn với thị trường.
Chỉ khi hợp tác xã hoạt động thực chất, hiệu quả và bền vững, mới có thể nâng cao thu nhập cho người dân, gia tăng giá trị nông sản và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế tự cường, thịnh vượng của địa phương trong thời gian tới.











