Cổ vật - Di sản quốc gia: Đặc sắc bảo vật nhà Nguyễn
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại cho hậu thế một khối hiện vật di sản vừa đồ sộ vừa đặc sắc
Đến nay, 14 hiện vật/nhóm hiện vật thuộc thời Nguyễn đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Điều này phản ánh rõ nét trình độ kỹ thuật, tư duy nghệ thuật, cũng như tầm nhìn và khát vọng về một quốc gia thống nhất, bền vững.
"Thần uy vô địch thượng tướng quân"
Trong kho tàng ấy, Hoàng thành Huế - Di sản Văn hóa thế giới do UNESCO công nhận - là không gian tập trung nhiều bảo vật tiêu biểu. Mỗi năm, nơi đây đón hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu lịch sử, văn hóa của cố đô.
Từ bến Nguyễn Hoàng trên đường Lê Duẩn, TP Huế, du khách có thể đi bộ qua cầu Cửa Ngăn để bước vào khu vực Kinh thành Huế. Cửa Ngăn, còn gọi là Thể Nhân môn, vốn là lối đi riêng dành cho nhà vua và hoàng gia. Mỗi lần vua xuất - nhập cung, triều đình cho quân lính phong tỏa con đường phía trước, không để dân thường qua lại, từ đó hình thành tên gọi Cửa Ngăn.
Ngay cạnh Cửa Ngăn là khu trưng bày Cửu vị Thần công - Bảo vật quốc gia được công nhận năm 2012. Đó là 9 khẩu đại pháo bằng đồng được đúc vào năm 1803, dưới triều vua Gia Long, được đặt trong 2 căn nhà đối diện nhau ở Quảng trường Ngọ Môn. Cửu vị Thần công có kích thước và hình dáng tương đồng, mỗi khẩu dài khoảng 5,15 m, nặng trên 10 tấn.
Trên đuôi mỗi khẩu thần công đều khắc tên và số thứ tự từ 1 đến 9, gắn với Tứ thời và Ngũ hành. Bốn khẩu phía trái được đặt tên Xuân, Hạ, Thu, Đông; năm khẩu phía phải mang tên Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Trên thân đại pháo khắc chữ Hán mô tả cách sử dụng thuốc súng, phương pháp bắn, cùng tên những người tham gia đúc súng.
Năm 1816, vua Gia Long sắc phong cả 9 khẩu đại pháo này danh hiệu "Thần uy vô địch thượng tướng quân", thể hiện vị thế đặc biệt của chúng trong hệ thống phòng thủ và nghi lễ của triều đình. Ban đầu, Cửu vị Thần Công được đặt hai bên trước Ngọ Môn. Đến năm 1917, các khẩu đại pháo được di dời về vị trí như hiện nay.

Cửu Đỉnh đặt ở Hiển Lâm các, trước Thế MIêúẢnh: Nguyên Lê
Cửu Đỉnh - "bách khoa toàn thư" độc đáo
Ngoài Cửu vị Thần Công, hệ thống bảo vật quốc gia thuộc triều Nguyễn còn bao gồm Chuông Ngọ môn, các ấn vàng, đồ ngự dụng... Trong đó, một trong những bảo vật ấn tượng nhất là Cửu Đỉnh - kiệt tác thể hiện nghệ thuật và tư tưởng của triều Nguyễn.
Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa đông năm 1835, hoàn thành năm 1837. Chín đỉnh đồng được đặt thành hàng ngang trước Hiển Lâm Các, đối diện Thế Miếu trong Hoàng thành Huế. Tên gọi các đỉnh đồng lần lượt là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh và Huyền Đỉnh - tương ứng thụy hiệu các vị hoàng đế triều Nguyễn.
Trong đó, Cao Đỉnh - tượng trưng cho vua Gia Long, người sáng lập triều Nguyễn - được đặt ở vị trí trung tâm và nhô về phía trước khoảng 3 m, thể hiện sự tôn vinh đặc biệt. Nhân Đỉnh đối diện án thờ vua Minh Mạng, các đỉnh còn lại lần lượt gắn với những vị vua kế tiếp.
Trong dụ ban cho nội các, vua Minh Mạng từng khẳng định: Đỉnh đồng này là vật tượng trưng cho sự chính danh, cho sự hội tụ mệnh trời và là bảo vật truyền đời của quốc gia. Tư tưởng ấy cho thấy Cửu Đỉnh không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng về chính trị và văn hóa sâu sắc.
Ngày 1-10-2012, Cửu Đỉnh được công nhận là Bảo vật quốc gia. Đến ngày 8-5-2024, 162 hình ảnh đúc nổi trên Cửu Đỉnh đã được UNESCO ghi danh là Di sản Tư liệu thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trên thân 9 đỉnh đồng có 162 hình ảnh chạm nổi; mỗi đỉnh gồm 18 hình, chia thành 3 tầng; phản ánh nhiều chủ đề: vũ trụ, linh vật, chim thú, cây cỏ, núi sông, sản vật, cửa biển, vũ khí... Đây được xem như "bách khoa toàn thư" bằng đồng về đất nước Việt Nam thống nhất đầu thế kỷ XIX.
Đáng chú ý, hình ảnh các vùng biển của Việt Nam được thể hiện trên 3 đỉnh lớn nhất - Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh và Chương Đỉnh - tượng trưng cho 3 vị vua đầu triều Nguyễn. Điều này cho thấy triều đình nhà Nguyễn đã sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của chủ quyền biển đảo trong tổng thể lãnh thổ quốc gia.
Với giá trị nghệ thuật, lịch sử và tư tưởng sâu sắc, Cửu Đỉnh được ví như "Đại Nam nhất thống chí bằng đồng", vượt khỏi phạm vi một bảo vật quốc gia để trở thành di sản của nhân loại.
Theo TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế, Cửu Đỉnh mang ý nghĩa về sự thành công, trường tồn, giàu có và thống nhất đất nước, là bảo vật mà nhà Nguyễn truyền lại cho hậu thế.

Bia Khiêm Cung ký tại lăng vua Tự Đức Ảnh: Văn Hậu
Lời trần tình hiếm có của một hoàng đế
Một hiện vật ấn tượng khác của triều Nguyễn là bia Khiêm Cung ký, được công nhận Bảo vật quốc gia năm 2015. Đây là tấm bia khắc bài văn do chính vua Tự Đức soạn thảo năm 1871, đặt tại Khiêm Lăng - nơi yên nghỉ của vị vua này ở phường Thủy Xuân, TP Huế.
Khiêm Cung ký hình chữ nhật, kích thước đồ sộ, nặng nhất trong số các bia đá ở lăng hoàng đế triều Nguyễn. Trán bia chạm nổi đồ án long vân, 4 tai bia trang trí hình rồng. Hai mặt bia có hình thức trang trí giống nhau nhưng khắc nội dung khác nhau...
Khác với thông lệ, khi các bia lăng vua Nguyễn thường do vua kế nghiệp viết để ca ngợi công đức hoàng đề tiền triều, Khiêm Cung ký là tấm bia duy nhất do chính vua Tự Đức tự viết cho mình. Với 4.935 chữ Hán, đây là tấm bia có số lượng văn tự nhiều nhất tại Việt Nam.
Trong văn bia này, vua Tự Đức thẳng thắn nói về thể trạng yếu ớt từ thuở nhỏ, những bất lực trước thời cuộc, nỗi đau trước cảnh đất nước lâm nguy, cũng như tâm nguyện gửi gắm khi lựa chọn vị trí lăng mộ trong mối quan hệ với đàn Nam Giao, chùa Linh Mụ, Xương Lăng và Văn Miếu. Tất cả thể hiện một nhân cách phức tạp, nhiều trăn trở của vị vua trị vì trong giai đoạn đầy biến động.
"Ôi!... Tôi tài tướng giỏi cũng đã tàn tạ hơn phân nửa, mấy ai có thể khôi phục lời di huấn về việc canh giữ biên cương của cha ta để giúp ta bước ra khỏi vòng tội lỗi…" - sự day dứt của vua Tự Đức được ghi lại trên Khiêm Cung ký.
Những nỗi lòng, tâm tư với đất nước cũng như việc riêng tư của mình được chính vua Tự Đức cho khắc lên Khiêm Cung ký. Chính điều đó đã tạo nên giá trị đặc biệt của tấm bia này mà không bia đá nào sánh được trong tất cả các bia ký của những vị vua nhà Nguyễn.












