Công bằng giáo dục - thước đo nhân văn của phát triển

Làm việc với ngành giáo dục và đào tạo về chuẩn bị năm học mới 2026 - 2027 và triển khai Nghị quyết 71, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra nhiều chỉ đạo quan trọng. Từ những chỉ đạo ấy, có thể nhận thấy đổi mới giáo dục trước hết là câu chuyện phát triển con người, bảo đảm công bằng xã hội và chuẩn bị năng lực quốc gia.

Nền tảng của mọi chính sách phát triển

Khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng với khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, giáo dục phải trở thành nền tảng để hình thành con người Việt Nam mới: có tri thức, có nhân cách, có kỹ năng, có bản lĩnh, có khát vọng và có khả năng đóng góp vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc làm việc với ngành giáo dục và đào tạo ngày 15/6. Ảnh: TTXVN

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại cuộc làm việc với ngành giáo dục và đào tạo ngày 15/6. Ảnh: TTXVN

Thông điệp nổi bật trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu bảo đảm công bằng trong giáo dục. Công bằng ở đây không chỉ được hiểu theo nghĩa mọi trẻ em đều có cơ hội đến trường, mà sâu sắc hơn, mọi người học phải có cơ hội tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và năng lực của mình. Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng bộ chỉ số theo dõi công bằng giáo dục giữa các vùng, các nhóm dân cư, các nhóm yếu thế là gợi mở rất quan trọng về tư duy quản trị.

Công bằng giáo dục không thể chỉ là khẩu hiệu đẹp, càng không thể là một cam kết chung chung. Công bằng phải được đo lường, theo dõi, kiểm tra, lượng hóa bằng các chỉ báo cụ thể: tỷ lệ học sinh đến trường, tỷ lệ bỏ học, điều kiện cơ sở vật chất, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, chất lượng bữa ăn học đường, khả năng tiếp cận sách giáo khoa, thiết bị dạy học, internet, học liệu số, mức độ an toàn của đường đến trường, cơ hội học tiếng Việt trước lớp 1 đối với trẻ em dân tộc thiểu số, cơ hội học tập suốt đời đối với người dân ở những địa bàn khó khăn…

Từ đó, chính sách mới có thể đi đúng vào nơi cần được hỗ trợ nhất. Tinh thần “nơi nào khó hơn được hỗ trợ nhiều hơn, giáo viên nào dạy ở nơi khó khăn hơn được đãi ngộ tốt hơn” thể hiện một cách tiếp cận rất nhân văn và cũng rất thực tiễn. Bởi lẽ, nếu chỉ phân bổ nguồn lực theo cách bình quân, chúng ta có thể tạo ra sự công bằng trên giấy tờ nhưng lại làm sâu sắc thêm bất bình đẳng trong thực tế. Công bằng không phải là chia đều cho tất cả, mà là tạo điều kiện để những nơi yếu thế hơn có thêm cơ hội vươn lên, để khoảng cách phát triển không trở thành rào cản đối với tương lai của trẻ em.

Công bằng giáo dục cũng chính là công bằng về cơ hội phát triển con người. Một quốc gia muốn đi xa không thể để bất kỳ đứa trẻ nào bị bỏ lại phía sau ngay từ điểm xuất phát. Một xã hội văn minh không thể để sự chênh lệch về điều kiện sống quyết định số phận tri thức của con người. Vì thế, thông điệp về công bằng giáo dục cần được hiểu rộng hơn như một cam kết của Nhà nước, của xã hội, của mỗi địa phương và mỗi gia đình đối với tương lai của thế hệ trẻ. Đó là ở đâu có học sinh, ở đó phải có giáo viên; ở đâu có nhu cầu học tập, ở đó phải có điều kiện học tập tối thiểu; ở đâu còn trẻ em khó khăn, ở đó chính sách phải đến trước. Công bằng giáo dục, suy cho cùng, là thước đo nhân văn của phát triển. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai quốc gia, cho chất lượng dân số, cho năng lực cạnh tranh và cho sự bền vững của xã hội.

Từ quản lý giáo dục đến quản trị phát triển giáo dục

Một thông điệp rất đáng chú ý khác trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”. Đây là một chuyển đổi có ý nghĩa sâu sắc, bởi nó không chỉ liên quan đến phương thức điều hành của ngành giáo dục, mà còn chạm đến triết lý vận hành của cả hệ thống.

Quản lý giáo dục, nếu hiểu theo cách cũ, thường gắn với mệnh lệnh hành chính, thủ tục, báo cáo, kiểm tra, thi đua, chỉ tiêu. Những công cụ ấy vẫn cần thiết, nhưng nếu bị tuyệt đối hóa, dễ làm giáo dục trở nên nặng nề, hình thức, xa rời mục tiêu cốt lõi là phát triển người học.

Các đại biểu tham dự cuộc làm việc giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với ngành Giáo dục và Đào tạo ngày 15/6. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu tham dự cuộc làm việc giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với ngành Giáo dục và Đào tạo ngày 15/6. Ảnh: TTXVN

Quản trị phát triển giáo dục đặt ra yêu cầu khác. Đó là phải quản trị bằng mục tiêu phát triển con người, bằng dữ liệu, bằng chất lượng, bằng trách nhiệm giải trình và bằng sự tham gia của nhiều chủ thể. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần giữ vai trò thống nhất về chuyên môn, tiêu chuẩn, chất lượng, đội ngũ, nhưng đồng thời phải trao quyền nhiều hơn cho nhà trường, hiệu trưởng và giáo viên.

Một nền giáo dục hiện đại cần một hệ sinh thái, trong đó nhà nước kiến tạo thể chế, nhà trường chủ động đổi mới, giáo viên được tôn trọng và hỗ trợ, phụ huynh đồng hành, doanh nghiệp tham gia phát triển kỹ năng, cộng đồng cùng chăm lo môi trường giáo dục. Khi đó, giáo dục không còn là việc riêng của ngành giáo dục, mà là sự nghiệp chung của toàn xã hội.

Chuyển sang quản trị phát triển cũng đòi hỏi phải đặt chất lượng thật lên trên thành tích hình thức. Một nền giáo dục nhân văn không thể chỉ quan tâm học sinh đạt bao nhiêu điểm, bao nhiêu giải thưởng, bao nhiêu chỉ tiêu, mà phải quan tâm các em có hạnh phúc không, có được tôn trọng không, có được bảo vệ không, có năng lực sống tử tế và tự tin bước vào tương lai không.

Điều quan trọng là mọi đổi mới phải đi cùng kỷ cương. Tinh thần “nói đi đôi với làm, chỉ đạo đi đôi với kiểm tra, nguồn lực đi đôi với trách nhiệm, đổi mới đi đôi với kỷ cương, nhân văn đi đôi với chất lượng” chính là yêu cầu hành động. Giáo dục là lĩnh vực của niềm tin. Niềm tin ấy phải được củng cố bằng những thay đổi cụ thể trong từng lớp học, từng ngôi trường, từng chính sách hỗ trợ người học và người dạy.

Từ phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới phải đồng thời giải quyết ba mối quan hệ lớn: giữa công bằng và chất lượng; giữa trao quyền và trách nhiệm; giữa đổi mới và kỷ cương. Nếu chỉ nói đến chất lượng mà không bảo đảm công bằng, giáo dục có thể làm gia tăng khoảng cách xã hội. Nếu chỉ trao quyền mà không có trách nhiệm giải trình, đổi mới có thể thiếu kiểm soát. Nếu chỉ nhấn mạnh kỷ cương mà không tạo không gian sáng tạo, giáo dục sẽ khó thích ứng với tương lai.

Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là chuẩn bị cho một năm học mới, mà là chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của giáo dục Việt Nam. Giáo dục, cuối cùng, không chỉ đào tạo nhân lực cho nền kinh tế, mà còn bồi đắp nhân cách cho xã hội, nuôi dưỡng khát vọng cho dân tộc và chuẩn bị nền tảng tinh thần cho tương lai. Bảo đảm công bằng giáo dục chính là bảo đảm rằng tương lai ấy không chỉ thuộc về một nhóm người có điều kiện thuận lợi, mà thuộc về mọi trẻ em Việt Nam, ở mọi vùng miền, trong mọi hoàn cảnh. Đó là chiều sâu nhân văn, cũng là tầm nhìn phát triển của một nền giáo dục vì con người và vì tương lai dân tộc.

Bùi Hoài Sơn

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/cong-bang-giao-duc-thuoc-do-nhan-van-cua-phat-trien-10420561.html