Cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị nhiều giải pháp thúc đẩy tăng trưởng
Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực doanh nghiệp và hoàn thiện môi trường đầu tư.
Sáng 18/7/2026, tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, có chủ đề: “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng”, đại diện nhiều hiệp hội, doanh nghiệp đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đầu tư và tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Các công ty Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ Nghị quyết số 10-NQ/TW
Trình bày tại hội nghị, ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch JCCI (Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam), cho biết các công ty Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ Nghị quyết số 10-NQ/TW với tầm nhìn thúc đẩy đầu tư chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhân tài và xây dựng các doanh nghiệp Việt Nam mạnh mẽ hơn. Đồng thời ông đưa ra ba khuyến nghị.

Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Chúng ta phải tăng cường phát triển tài năng công nghiệp cho các ngành có giá trị gia tăng cao. Ngành công nghiệp điện tử và bán dẫn hiện là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Khả năng cạnh tranh trong tương lai của ngành này phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của lực lượng lao động.
Các công ty Nhật Bản đang đầu tư rất lớn vào đào tạo. Tuy nhiên, việc phát triển tài năng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp, các cơ sở giáo dục (trường đại học, trường nghề) và Chính phủ. Ông hoan nghênh các sáng kiến hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho sự hợp tác giữa các ngành công nghiệp và các tổ chức giáo dục.
Cụ thể như, các trung tâm đào tạo công nghệ điện tử và bán dẫn; phát triển lực lượng lao động lành nghề, các kỹ sư bảo trì và các chuyên gia quản lý chất lượng. Ngoài ra, các chương trình đào tạo kỹ thuật ở nước ngoài cũng là chìa khóa để khuyến khích đầu tư vào phát triển lực lượng lao động.
Trong những năm tới, thách thức lớn nhất có lẽ không phải là số lượng kỹ sư, mà là sự thiếu hụt các chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm, chuyên gia bảo trì và chuyên viên quản lý chất lượng. Con người là nền tảng của năng lực cạnh tranh công nghiệp. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia vào các hoạt động có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng, thì đây là điều rất quan trọng.
Thứ hai, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Phải đẩy mạnh sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhiều công ty Nhật Bản muốn tăng cường mua sắm nội địa tại Việt Nam, tuy nhiên, sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng hiện vẫn còn hạn chế.
Cơ hội đang có trong các lĩnh vực như vật liệu, linh kiện, sản xuất chính xác và các dịch vụ công nghiệp chuyên dụng. Do đó, Việt Nam cần có cả những nhà cung cấp lớn mạnh và một thế hệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), các công ty khởi nghiệp mới tham gia vào chuỗi cung ứng.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty khởi nghiệp năng động đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong đổi mới sáng tạo. Nhiều công ty hàng đầu trong tương lai sẽ xuất thân từ nhóm này. Vì vậy, ông khuyến khích tiếp tục hỗ trợ phát triển nhà cung cấp, mở rộng cơ hội kết nối kinh doanh, thúc đẩy hợp tác kỹ thuật, các dự án phát triển chung và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các startup.
Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tư FDI quy mô lớn. Trong tương lai, chúng ta phải tạo ra thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển và trở thành đối tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cần tập trung hỗ trợ nâng cấp công nghệ, chứng nhận chất lượng, nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo lực lượng lao động và nâng cao năng suất lao động.
Thứ ba, môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định
Cần có một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán được và thân thiện với doanh nghiệp. ông đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư và cải cách hành chính.
Tuy nhiên, tính minh bạch, khả năng dự báo và việc thực thi chính sách một cách đồng bộ vẫn là những yếu tố then chốt đối với các nhà đầu tư. Khi Nghị quyết 10-NQ/TW được cụ thể hóa thành các luật và quy định, ông trân trọng đề nghị Chính phủ mở rộng tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp.
Cơ chế đối thoại công - tư và cơ chế lấy ý kiến công chúng hiệu quả sẽ giúp đảm bảo rằng các chính sách sát với thực tế, có tính khả thi và được thực hiện thành công.
Việt Nam có tiềm năng rất lớn để trở thành một trong những trung tâm công nghiệp hàng đầu của châu Á về công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để đạt được điều này, ông tin rằng có ba ưu tiên chính: Phát triển các tài năng công nghiệp; tăng cường năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu; duy trì một môi trường kinh doanh minh bạch, có thể dự đoán và thân thiện.
Các công ty Nhật Bản đã, đang và sẽ tiếp tục cam kết đóng góp cho sự thành công lâu dài của Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản luôn sẵn sàng đồng hành trên con đường phát triển này.
Hoàn thiện cơ chế tín dụng xanh tạo động lực cho tăng trưởng bền vững
Phát biểu tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), cho biết từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thành viên Hội Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam và Tập đoàn BRG, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước như sau:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tài khóa, tiền tệ và phát triển tín dụng xanh.
Thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng. Tín dụng xanh cần trở thành một động lực quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Mặc dù dư nợ tín dụng xanh đã vượt 700.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm, nhưng mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ.
Bà Nguyễn Thị Nga đề xuất Chính phủ: Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh đầu tư dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời quy định rõ đối tượng, tiêu chí, nguồn kinh phí, thời hạn hỗ trợ và cơ chế giám sát để bảo đảm minh bạch, hiệu quả, hạn chế trục lợi chính sách.

Bà Nguyễn Thị Nga, Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch thường trực Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tổ chức triển khai thống nhất Danh mục phân loại tín dụng xanh quốc gia; ban hành hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình xác nhận và cơ chế cập nhật danh mục. Đồng thời, cần nghiên cứu các công cụ hỗ trợ phù hợp cho tổ chức tín dụng, bao gồm cơ chế tái cấp vốn ưu đãi, chia sẻ rủi ro và huy động các nguồn vốn dài hạn trong nước và quốc tế.
Tăng cường phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và tổ chức tín dụng trong tuyên truyền, đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi xanh, ưu tiên doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ hai, phát triển mạnh thị trường bán lẻ trong nước thông qua nâng cao năng lực kết nối của doanh nghiệp sản xuất với chuỗi cung ứng và hệ thống phân phối hiện đại.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục biến động do thuế quan và đứt gãy chuỗi cung ứng, phát huy sức cầu nội địa là giải pháp quan trọng để nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp khó trong việc đáp ứng tiêu chuẩn của hệ thống phân phối hiện đại, chi phí logistics cao và thiếu dữ liệu thị trường, dẫn đến mất cân đối cung - cầu.
Thực tiễn, nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng Việt chất lượng cao là rất lớn. Để khai thác hiệu quả dư địa này, cần một cơ chế kết nối đồng bộ giữa sản xuất và phân phối với sự hỗ trợ của Chính phủ. Vì vậy, tôi xin đề xuất Chính phủ:
Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển chuỗi cung ứng hàng Việt, liên kết xuyên suốt giữa sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu dùng.
Ban hành cơ chế khuyến khích và đặt hàng các doanh nghiệp lớn tham gia hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã thông qua tư vấn tiêu chuẩn chất lượng, chuyển giao công nghệ, chia sẻ hạ tầng logistics, kết nối tiêu thụ và phát triển chuỗi cung ứng. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa và mở rộng sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba, phát triển du lịch thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Du lịch là ngành kinh tế có sức lan tỏa lớn, tạo giá trị cho thương mại, bán lẻ, vận tải, lưu trú, văn hóa và nhiều ngành dịch vụ khác. Đây là dư địa rất lớn để thúc đẩy tăng trưởng. Mục tiêu của chúng ta là nâng cao giá trị kinh tế trên mỗi lượt khách, cần phát triển mạnh các hệ sinh thái mua sắm, giải trí, dịch vụ lưu trú chất lượng cao và kinh tế đêm. Tuy nhiên, việc đầu tư và vận hành các tổ hợp thương mại, du lịch quy mô lớn vẫn còn nhiều vướng mắc về cơ chế và chính sách.
Vì vậy, bàđề xuất Chính phủ nghiên cứu, thí điểm các cơ chế đặc thù đối với các tổ hợp thương mại, du lịch, vui chơi giải trí quy mô lớn, bao gồm:
Linh hoạt và đồng bộ hóa thể chế kinh tế đêm cho các tổ hợp vui chơi giải trí lớn. Địa phương tiên phong như Hà Nội đã ban hành Nghị quyết kinh tế đêm (tháng 6/2026) để phát triển thực chất kinh tế đêm, mở rộng không gian tiêu dùng và gia tăng chi tiêu của du khách.
Đơn giản hóa, đẩy nhanh quy trình hoàn thuế VAT tại chỗ cho khách quốc tế tại các trung tâm thương mại lớn, tạo thuận lợi và kích cầu mua sắm.
Nghiên cứu áp dụng cơ chế ưu đãi về thuế, phí phù hợp, xem xét điều chỉnh các chính sách thuế (như thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại hình dịch vụ giải trí, nghỉ dưỡng và thể thao cao cấp) nhằm nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong khu vực.
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là thách thức lớn, đồng thời là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Cộng đồng doanh nghiệp tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước.
"Về phía doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi cam kết đầu tư mạnh mẽ hơn, đổi mới sáng tạo quyết liệt hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững đồng hành cùng Chính phủ xây dựng một khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế", bà Nguyễn Thị Nga cho biết .
Thiết lập cơ chế theo dõi, đôn đốc việc xử lý kiến nghị của doanh nghiệp
Tiếp tục các ý kiến tại hội nghị, ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam kiến nghị một số nội dung.
Thứ nhất, thiết lập cơ chế theo dõi, đôn đốc việc xử lý kiến nghị của doanh nghiệp. Cần có một đầu mối và hệ thống điện tử thống nhất, công khai tiến độ và xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời gian xử lý.

Ông Đặng Hồng Anh - Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, nêu kiến nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thứ hai, tổ chức xử lý theo chuyên đề đối với các điểm nghẽn phổ biến về đất đai, về đầu tư xây dựng, về phòng cháy chữa cháy, về môi trường, tín dụng và hành chính thuế. Những vấn đề liên ngành cần có tổ công tác, thời gian giải quyết và quy trình liên thông, không để doanh nghiệp phải tự đi xin ý kiến của nhiều cơ quan.
Thứ ba, mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp thông qua cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng và dữ liệu kinh doanh. Có gói vốn phù hợp, có thể tỉ lệ 1-2% tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng.
Thứ tư, rà soát chính sách tiền thuê đất theo hướng ổn định, phù hợp với đặc thù từng ngành. Đơn cử rất nhiều hội viên tại các tỉnh thành, đặc biệt là Khánh Hòa và Ninh Thuận cũ, tiền thuê đất tăng từ 600 triệu giai đoạn 2016-2020 lên 4,3 tỷ trong giai đoạn 2021-2025 và 20,8 tỷ giai đoạn 2026-2030 (tức là gấp 35 lần so với thời gian đầu khi ký thuê đất với tỉnh). Tiền thuê đất đã chiếm 50% doanh thu thuần của doanh nghiệp trong năm 2025.
Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam đề nghị Thủ tướng chỉ đạo rà soát phương pháp, tỉ lệ và chu kỳ xác định đơn giá thuê đất, tránh việc điều chỉnh đột biến, vượt khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực du lịch và nghỉ dưỡng.
Thứ năm, đẩy nhanh thoái vốn Nhà nước tại những doanh nghiệp đã cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm quyền chi phối. Cần có lộ trình cụ thể, công khai, qua đó giải phóng được nguồn lực, tăng tính chủ động trong việc đầu tư phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.
Ông Tsuchibashi Akito, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam, Chủ tịch JCCI (Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam), cho biết các công ty Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ Nghị quyết số 10-NQ/TW với tầm nhìn thúc đẩy đầu tư chất lượng cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhân tài và xây dựng các doanh nghiệp Việt Nam mạnh mẽ hơn.














