Công nghệ chiến lược: Lời giải cho bài toán thoát kiếp gia công
Lãnh đạo Bộ KH&CN, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội cùng khẳng định phát triển công nghệ chiến lược là chìa khóa bứt phá, xóa bỏ tư duy gia công để tự chủ kinh tế.
Công nghệ chiến lược trở thành trục hành động trung tâm tại Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam (18/5). Thông điệp từ các nhà quản lý, nhà khoa học hàng đầu chỉ rõ: Khi hành lang thể chế đã mở, đây là thời điểm hành động quyết liệt để tạo ra sản phẩm quốc gia cụ thể.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn mang tính thứ yếu, mà là động lực chủ yếu đưa đất nước vượt bẫy thu nhập trung bình, bứt phá trong kỷ nguyên mới theo đúng chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Chính phủ và các mục tiêu của Nghị quyết 57.
Các hành lang pháp lý như Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã thiết lập hệ thống thể chế cởi mở, tạo đột phá căn bản về phương thức phân bổ nguồn lực và tháo gỡ rào cản cho giới trí thức. Quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và Chính phủ chính là bệ đỡ vững chắc, định hình tư duy kiến tạo để toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia tự tin gia tốc, khơi thông mọi nguồn lực về trí tuệ, hạ tầng, dữ liệu nhằm hiện thực hóa mục tiêu tự chủ công nghệ.
Cơ cấu lại nguồn lực cho các chương trình công nghệ chiến lược quốc gia

GS.TS. Vũ Hải Quân - Bộ trưởng Bộ KH&CN khẳng định: "Phát triển công nghệ chiến lược quốc gia giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán công nghệ lớn có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ công nghệ của đất nước"..
Phân tích bối cảnh thời đại, GS.TS. Vũ Hải Quân - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chỉ ra xu thế lớn như dữ liệu lớn, năng lượng mới, lượng tử, sản xuất thông minh đang thay đổi tận gốc cấu trúc kinh tế toàn cầu. Việt Nam phải đột phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để xây dựng nền kinh tế tự chủ. Mô hình kinh tế thâm dụng lao động giá rẻ, gia công lắp ráp phân khúc thấp không còn phù hợp yêu cầu mới.
Để khoa học công nghệ là bệ phóng giúp đất nước thoát kiếp gia công, Bộ KH&CN đang tiến hành bước đi bước ngoặt vĩ mô: Cơ cấu lại hệ thống chương trình KH&CN cấp quốc gia. Bộ trưởng nhấn mạnh:
"Việc đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính đang được thực hiện thông qua kế hoạch tái cấu trúc các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, quy hoạch mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và vùng. Theo hướng này, 42 chương trình khoa học công nghệ quốc gia dự kiến sẽ được tổ chức lại theo hướng tinh gọn và phân tầng chức năng thành sáu chương trình lớn bao gồm: các chương trình nghiên cứu cơ bản, các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, các chương trình triển khai công nghệ chiến lược quốc gia, các chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia, các chương trình chuyển đổi số quốc gia và các chương trình nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong sáu trục này, phát triển công nghệ chiến lược quốc gia giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm tập trung nguồn lực giải quyết các bài toán công nghệ lớn có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ công nghệ của đất nước."
Sự chuyển dịch này đòi hỏi thay đổi tư duy quản lý. Vì đổi mới sáng tạo luôn gắn liền với rủi ro và thử nghiệm, vai trò của Nhà nước phải chuyển từ "kiểm soát rủi ro" sang "kiến tạo phát triển" - chấp nhận rủi ro có kiểm soát, bảo vệ sở hữu trí tuệ và chuẩn hóa tiêu chuẩn quốc tế để kích thích các nhà khoa học dấn thân.
Tái cấu trúc viện, trường và cơ chế vận hành theo hiệu quả đầu ra
Sự thay đổi tư duy vĩ mô nhận ngay sự cộng hưởng, chủ động thực thi từ khối đại học, viện nghiên cứu. Đại diện Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), PGS.TS. Bùi Thế Duy khẳng định, khi hành lang thể chế và nguồn lực tài chính đã được cơ quan quản lý vĩ mô chuẩn bị, nút thắt quyết định lúc này nằm ở chính năng lực thực thi của từng đơn vị.

PGS.TS. Bùi Thế Duy: Chính sách cấp kinh phí theo gói đã được luật hóa và nghị định hóa. Phương thức này không phải là giao một cục tiền ngay từ đầu, mà là chuyển từ đánh giá từng nội dung khoa học cụ thể sang giao nhiệm vụ dựa trên tiềm lực, uy tín và cam kết đầu ra của đơn vị nghiên cứu.
PGS.TS. Bùi Thế Duy nêu rõ: "Việc triển khai công nghệ chiến lược hiện nay đòi hỏi hành động thực tế từ các viện trưởng và doanh nghiệp. Nếu các đơn vị nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp không bắt tay vào những phần việc cụ thể mà chỉ dừng lại ở thảo luận, chúng ta sẽ không thể tạo ra sản phẩm."
Để chuyển trục vận hành, PGS.TS. Bùi Thế Duy cho biết đã và đang thực hiện ba nhóm giải pháp thực tế tại đơn vị. Trước hết, về công tác đào tạo, ĐHQGHN đã đưa hơn 10 chương trình vào danh mục nghiên cứu cơ bản làm chủ tri thức sâu theo định hướng của Bộ GD&ĐT. Mục tiêu của bước đi này là tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia đủ năng lực thiết kế tinh vi, thay thế dần nguồn nhân lực chỉ biết vận hành hoặc đọc tài liệu hướng dẫn chuyển giao từ nước ngoài.
Đồng thời, với mô hình quản trị, ĐHQGHN tiến hành chuyển đổi các viện nghiên cứu nội bộ thành những đơn vị trọng điểm, vận hành theo mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST). Mô hình này lấy hiệu quả đầu ra, giá trị thương mại hóa sản phẩm làm thước đo năng lực cốt lõi thay cho cách đánh giá định tính trước đây.
Về lộ trình hành động toàn diện, PGS.TS. Bùi Thế Duy chia sẻ, ĐHQGHN đã phân rõ các mốc phân tầng cụ thể:
Về dài hạn: Tập trung đào tạo sâu, nghiên cứu cơ bản hệ thống để làm chủ tri thức khoa học vững chắc.
Về trung hạn: Phối hợp bộ ngành, doanh nghiệp giải quyết bài toán lớn. Trong chuỗi UAV, phối hợp Bộ Quốc phòng, doanh nghiệp MK làm chủ, thiết kế động cơ điện UAV, sản xuất chip cho camera ảnh nhiệt nhằm chấm dứt nhập khẩu cấu phần cứng cốt lõi. Với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phối hợp VKIST triển khai giải pháp công nghệ cho chuỗi sầu riêng, xử lý từ mô hình kinh tế, ô nhiễm môi trường, nhiễm cadmium, xét nghiệm nhanh độ chín đến truy xuất nguồn gốc giúp nâng cao giá trị thặng dư nông sản.
Về ngắn hạn: Xác định bài toán cần giải quyết trong 6 tháng, điều động hơn 50 nhóm nghiên cứu mạnh nhanh chóng vào cuộc để sớm đưa ra kết quả cụ thể.
Mục tiêu nâng tầm khu vực và chiến lược giải mã công nghệ lõi

GS.TS. Trần Hồng Thái - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Để cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 57, GS.TS. Trần Hồng Thái - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) vạch rõ mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030 là tổ chức nghiên cứu hàng đầu Đông Nam Á, năm 2045 mang tầm cỡ Châu Á. VAST vạch rõ bốn hướng hành động cốt lõi:
Một là, phát triển nhân lực tinh hoa: Coi con người là tài sản quý nhất, khơi dậy khát vọng cống hiến ở thế hệ trẻ, tạo cơ hội cho học sinh, sinh viên bước vào đường khoa học; nuôi dưỡng nhân tài bằng môi trường học thuật chuyên nghiệp.
Hai là, vun đắp văn hóa làm việc: Gìn giữ giá trị tôn vinh tri thức, đề cao khoa học, coi sáng tạo là giá trị cao nhất; giữ tinh thần đoàn kết, khách quan, trong sáng.
Ba là, đột phá công nghệ mới: Đẩy mạnh chiến lược "Giải mã công nghệ". Quyết tâm làm chủ công nghệ lõi về Lượng tử, Bán dẫn, Trí tuệ nhân tạo (AI), Công nghệ Vũ trụ; chuyển hóa năng lực nghiên cứu thành giải pháp quốc gia về dự báo thiên tai, vật liệu chiến lược, an ninh năng lượng.
Bốn là, gắn kết khoa học với thực tiễn: Nghiên cứu phục vụ trực tiếp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, giải quyết nhu cầu thiết thực xã hội.
Đột phá cơ chế tài chính và xây dựng hạ tầng dữ liệu số
Để giải phóng sức sáng tạo, các nhà khoa học đồng thuận cần quyết liệt tháo gỡ rào cản nội tại về cơ chế tài chính. Từ góc độ đơn vị thực hiện, PGS.TS. Bùi Thế Duy chỉ ra điểm nghẽn nằm ở tâm lý e ngại của cấp thực thi đối với cơ chế cũ. Ông kiến nghị Chính phủ, các Bộ trưởng triển khai chính sách cấp kinh phí theo gói (block funding) đã được luật hóa:
"Chính sách cấp kinh phí theo gói đã được luật hóa và nghị định hóa. Phương thức này không phải là giao một cục tiền ngay từ đầu, mà là chuyển từ đánh giá từng nội dung khoa học cụ thể sang giao nhiệm vụ dựa trên tiềm lực, uy tín và cam kết đầu ra của đơn vị nghiên cứu. Cơ chế này sẽ giúp các nhà khoa học chủ động hoàn toàn về chuyên môn thay vì cơ quan quản lý phải can thiệp sâu. Nếu cơ chế này được áp dụng vào việc giao dự toán kinh phí bổ sung cho năm 2026 và năm 2027, các vướng mắc về thủ tục tài chính sẽ được giải quyết hoàn toàn."
Ông Duy kiến nghị Quỹ Nafosted đẩy nhanh hỗ trợ nghiên cứu liên quan để sớm đưa sản phẩm hợp tác viện, trường, doanh nghiệp vào cuộc sống, giảm rủi ro ban đầu cho đơn vị thực hiện.
Về vấn đề này, GS.TS. Vũ Hải Quân - Bộ trưởng Bộ KH&CN cho biết Bộ đang chủ động đổi mới cơ chế điều hành theo hướng thiết lập mô hình quản trị thống nhất trên nền tảng số nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế trùng lặp. Giải pháp trọng tâm là vận hành "Nền tảng quản lý khoa học công nghệ quốc gia", kết nối toàn bộ dữ liệu nhiệm vụ, nguồn vốn, chuyên gia, kết quả nghiên cứu giúp tập trung đầu tư đúng thế mạnh, tránh dàn trải lãng phí.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng định vị doanh nghiệp là trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phải chủ động đầu tư cho tri thức thay vì chỉ gia công phụ thuộc. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp phát triển công nghệ chiến lược: AI, bán dẫn, sinh học, dữ liệu lớn, hạ tầng số, năng lượng mới nhằm đảm bảo năng lực cạnh tranh, an ninh quốc gia lâu dài, kiến tạo tập đoàn công nghệ nội địa đủ sức cạnh tranh quốc tế.
Sự đồng thuận tại hội nghị giữa Bộ trưởng Bộ KH&CN, Chủ tịch VAST cùng Giám đốc ĐHQGHN đã khẳng định một tinh thần thống nhất: Định hướng chiến lược đã rõ, thể chế đang được khơi thông và các đơn vị nghiên cứu đầu tàu đã sẵn sàng hành động.
Xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất, giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ trí thức thông qua các giải pháp tháo gỡ rào cản cơ chế chính là mệnh lệnh hành động hiện nay. Đây là chìa khóa quyết định để Việt Nam tự chủ công nghệ, giải bài toán thoát kiếp gia công và tạo bứt phá kinh tế bền vững trong giai đoạn tới.











