Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) nhấn mạnh, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chính sách đã được ban hành đồng bộ, tạo động lực cho doanh nghiệp bứt phá từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
PV: Theo ông, doanh nghiệp đóng vai trò như thế nào trong việc đưa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào sản xuất, kinh doanh trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng?

TS. Tô Hoài Nam
TS. Tô Hoài Nam: Theo tôi, doanh nghiệp chính là chủ thể trực tiếp chuyển hóa tri thức, công nghệ thành sản phẩm tạo nên giá trị kinh tế nhất định. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định doanh nghiệp, người dân giữ vai trò trung tâm, đồng thời cũng là một nguồn lực và động lực chủ yếu trong quá trình này. Vì vậy, doanh nghiệp phải chủ động tham gia xác định nhu cầu, đặt hàng nghiên cứu cho đến ứng dụng và thương mại hóa kết quả đó.
Trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, doanh nghiệp cần ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo ra nhiều giá trị hơn trên từng nguồn lực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải nhận diện được khâu nào đang làm tăng chi phí, làm giảm chất lượng hoặc làm hạn chế khả năng đáp ứng từ thị trường, để từ đó lựa chọn công nghệ và cách thức vận dụng, tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phù hợp.
Chính bài toán cụ thể đó sẽ tạo những đầu ra thiết thực cho các trường, viện nghiên cứu, giúp hoạt động khoa học công nghệ gắn chặt với nhu cầu phát triển của từng loại hình doanh nghiệp. Ví dụ, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc nghiên cứu một công nghệ mới, cách thức mới làm giảm hao hụt nhiên liệu hay kiểm soát chất lượng đồng đều hơn, hoặc quản lý hàng tồn kho chính xác hơn trong quản trị doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết.
Khu vực doanh nghiệp nhỏ tiếp cận trực tiếp với người bán hàng, nên có năng lực lựa chọn tiếp nhận và cải tiến công nghệ phục vụ khá linh hoạt. Do vậy, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng xác định, để đi vào cuộc sống, thì ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành công việc thường xuyên của doanh nghiệp. Thành công phải thể hiện thông qua năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm. Ảnh: Đức Thanh
PV: Nhìn từ thực tiễn khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, những cơ hội và khó khăn nào đang tác động đến quá trình đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, thưa ông?
TS. Tô Hoài Nam: Tôi cho rằng, về cơ hội, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận ngay từ những công cụ quản trị doanh nghiệp nhỏ, kể cả hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp. Ví dụ, việc thuê dịch vụ rồi sử dụng nền tảng chung hoặc hợp tác với các đơn vị công nghệ có thể mở ra hướng mới về đầu tư, phù hợp hơn với nguồn lực của doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ. Nếu lựa chọn đúng, thì doanh nghiệp nhỏ vẫn có thể quản lý những đơn hàng chất lượng tiên tiến, đủ tin cậy và đủ khả năng để tham gia các chuỗi cung ứng lớn.
Tuy nhiên, thực trạng khó khăn của doanh nghiệp nhỏ là vấn đề thiếu vốn, thiếu người đánh giá về công nghệ một cách chính xác, thiếu những dữ liệu cần thiết để tổ chức bài bản, đặc biệt là thiếu nhân sự đủ khả năng vận hành khi tiếp cận công nghệ. Nhìn chung, nhiều chủ doanh nghiệp thấy cần phải đổi mới nhưng chưa xác định được nên bắt đầu ở đâu, đầu tư bao nhiêu và khi nào thì thu hồi được vốn. Từ thực tiễn đó, chính sách hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với trình độ, quy mô của từng loại hình doanh nghiệp, để đảm bảo đi vào thực tiễn hiệu quả.
Một điểm nghẽn khác là năng lực biến công nghệ thành hiệu quả kinh doanh. Để ứng dụng công nghệ hiệu quả, doanh nghiệp cần xác định đúng nhu cầu, tiến hành thử nghiệm, triển khai các giải pháp vận hành. Với các doanh nghiệp nhỏ, cũng phải tính đến sức chịu đựng tài chính trong giai đoạn chuyển đổi.
PV: Ông đánh giá thế nào về các chính sách hỗ trợ đổi mới khoa học công nghệ, chuyển đổi số của nước ta hiện nay?
TS. Tô Hoài Nam: Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao chuyển biến trong định hướng chính sách từ tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Cụ thể, nhiều chính sách thuế được sửa đổi, bổ sung ưu đãi, miễn thuế đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; thu hút nhân lực công nghệ cao, công nghệ số… Đồng thời, chú trọng đến nhu cầu và khả năng tiếp nhận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Liên kết hợp tác để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh
TS. Tô Hoài Nam cho rằng, việc đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ và liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh đóng vai trò quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần nhìn nhận những thay đổi của thị trường để xây dựng hướng đi phù hợp. Cùng với đó, sự liên kết giữa các doanh nghiệp giúp chia sẻ thông tin, kinh nghiệm quản trị và nguồn lực. Đây là nền tảng hình thành các chuỗi giá trị có tính liên kết cao.
Ngày 16/3/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 433/QĐ-TTg phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 - 2030. Đề án đặt ra các gói hỗ trợ rất phù hợp với quy mô, mức độ sẵn sàng, đặc thù của từng ngành nghề, bao gồm tư vấn, đào tạo, tiếp cận hạ tầng dùng chung. Đây là hướng tiếp cận rất phù hợp và mang tính đột phá. Tuy nhiên, quá trình từ định hướng đến kết quả tại doanh nghiệp đòi hỏi khâu tổ chức thực hiện cụ thể, đồng bộ.
Vì thế, theo tôi, cần phải tập trung vào 3 vấn đề. Thứ nhất, hỗ trợ phải hướng tới đúng những vấn đề mà doanh nghiệp thiếu. Doanh nghiệp siêu nhỏ thì cần công cụ quản lý đơn giản, nhưng hướng dẫn trực tiếp phải chi tiết hơn. Doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng cần giải pháp đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý chất lượng và kết nối dữ liệu. Nếu một gói hỗ trợ giống nhau, thì khó đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các loại hình doanh nghiệp.
Thứ hai, thủ tục tương xứng với quy mô hỗ trợ và năng lực tuân thủ. Trong đó, cần công khai điều kiện, đầu mối và thời hạn giải quyết. Ngoài ra, phải khai thác lại các dữ liệu đã có để giảm bớt các giấy tờ không cần thiết khi đã có trên hệ thống dữ liệu. Cùng với đó, phải tính đến khả năng đáp ứng vốn của doanh nghiệp.
Thứ ba, phát huy vai trò của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, đồng thời, huy động nguồn lực xã hội để mở rộng khả năng hỗ trợ. Việc đánh giá cũng cần phải theo dõi ở cả mức độ sử dụng và hiệu quả sau khi doanh nghiệp được hỗ trợ.
Tôi cho rằng, thước đo quan trọng nhất là doanh nghiệp có vận hành tốt hơn và tiếp tục đổi mới được bằng năng lực của chính doanh nghiệp. Do vậy, chính sách cần được tạo ra từ những năng lực phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.q
PV: Xin cảm ơn ông!
