Quy định số 224-QĐ/TW: Làm kinh tế bằng năng lực, không bằng quyền lực

(NB&CL) Một người đảng viên có thể trở thành doanh nhân giỏi, tạo ra sản phẩm có ích, giải quyết việc làm cho người lao động và đóng góp cho ngân sách. Nhưng nếu lợi thế kinh doanh đến từ chức vụ đang nắm giữ, thông tin có được nhờ công vụ hay khả năng chi phối những quyết định quản lý, câu chuyện đã vượt khỏi phạm vi làm giàu thông thường. Khi ấy, điều cần được xem xét không chỉ là khoản lợi nhuận thu về, mà còn là nguồn gốc của lợi thế tạo nên khoản lợi nhuận đó.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Ranh giới giữa quyền lực công và lợi ích tư

Đây cũng là ranh giới quan trọng đặt ra trong Quy định số 224-QĐ/TW ngày 14/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh. Quy định mở ra khuôn khổ để đảng viên phát huy năng lực, nguồn lực, làm giàu hợp pháp, chính đáng, đồng thời đặt ra những giới hạn nhằm kiểm soát xung đột lợi ích và ngăn chặn việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn phục vụ lợi ích riêng.

Điều đáng chú ý không nằm ở việc đảng viên có làm kinh tế hay không, mà ở cách hoạt động kinh tế được thực hiện và giới hạn quyền lực phải được giữ vững. Một người có thể thành công nhờ kiến thức, kinh nghiệm quản trị, khả năng nắm bắt thị trường và sự sáng tạo. Đó là những nguồn lực cần được khuyến khích, bởi sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân cũng như sức cạnh tranh của nền kinh tế cần đến những người dám đầu tư, dám đổi mới và biết biến ý tưởng thành giá trị thực tế.

Nhưng nếu một doanh nghiệp giành được hợp đồng nhờ người đứng sau có khả năng tác động đến quyết định công vụ, hoặc có lợi thế vì được tiếp cận thông tin không dành cho các đối thủ khác, sự cạnh tranh đã không còn bình đẳng. Khi ấy, năng lực sản xuất, chất lượng hàng hóa hay hiệu quả quản trị có thể không còn là yếu tố quyết định thành bại. Thứ đáng lẽ chỉ được sử dụng để phục vụ lợi ích chung lại có nguy cơ trở thành nguồn lực tạo lợi thế cho một chủ thể kinh doanh.

Hãy hình dung hai doanh nghiệp cùng tham gia một cuộc cạnh tranh. Một bên đầu tư vào công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm, tiết giảm chi phí để giành khách hàng; bên kia có thể dựa vào quan hệ với người có thẩm quyền để tiếp cận cơ hội thuận lợi hơn. Nếu lợi thế thứ hai được hình thành từ quyền lực công, thị trường sẽ phải trả giá bằng sự méo mó trong cạnh tranh, còn những người làm ăn bằng năng lực thực chất có nguy cơ bị đẩy vào thế bất lợi.

Đây là tình huống minh họa cho nguy cơ xung đột lợi ích, không phải một vụ việc cụ thể, nhưng cho thấy vì sao ranh giới giữa công vụ và lợi ích tư cần được xác lập rõ ràng.

Không để quyền lực trở thành lợi thế trên thị trường

Quy định số 224-QĐ/TW đặt ra những giới hạn đối với việc sử dụng tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh trái quy định; đồng thời ngăn ngừa việc đầu tư vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà người đảng viên trực tiếp quyết định hoặc quản lý. Hoạt động kinh doanh cũng không được làm ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

Những giới hạn ấy không phải là sự phủ nhận quyền làm kinh tế, mà nhằm bảo đảm quyền kinh doanh được thực hiện trong khuôn khổ công bằng và liêm chính. Bởi vì, quyền lực công vốn được trao để thực hiện nhiệm vụ chung, không phải để tạo thêm ưu thế cho một cá nhân hay doanh nghiệp. Khi người có trách nhiệm quản lý một lĩnh vực đồng thời có lợi ích kinh tế gắn với chính lĩnh vực ấy, nguy cơ xung đột lợi ích có thể xuất hiện ngay cả trước khi có hành vi vi phạm cụ thể.

Đây là điểm cần nhìn nhận thấu đáo. Xung đột lợi ích không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng một quyết định sai trái dễ nhận diện. Đôi khi, vấn đề nằm ở khả năng một quyết định công vụ bị chi phối bởi lợi ích kinh tế của người ra quyết định hoặc người có liên quan; một thông tin được tiếp cận sớm hơn có thể làm thay đổi cơ hội kinh doanh; một mối quan hệ trong thực thi công vụ có thể tạo ra ưu thế mà các doanh nghiệp khác không thể có được. Nếu chỉ xem xét tên người đứng trên giấy tờ sở hữu, nguy cơ có thể bị bỏ lọt, bởi lợi ích thực tế đôi khi không trùng khớp với hình thức đứng tên.

Vì vậy, việc kiểm soát xung đột lợi ích cần nhìn vào bản chất của mối quan hệ và lợi ích phát sinh, thay vì chỉ dừng ở thủ tục hay hình thức sở hữu. Câu hỏi cần đặt ra là người thực thi công vụ có đang quyết định vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của chính mình hoặc người có liên quan hay không; nguồn lực được sử dụng có đúng mục đích hay không; cơ hội kinh doanh có được tiếp cận trên cơ sở bình đẳng hay không. Nhận diện được những điểm giao cắt ấy sẽ giúp ngăn ngừa rủi ro từ sớm, trước khi sự việc trở thành sai phạm và gây tổn hại đến niềm tin của xã hội.

Quy định 224-QĐ/TW cũng phân định quyền và giới hạn tham gia kinh doanh theo chức danh, vị trí công tác, nhiệm vụ được giao và nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích. Những hoạt động được phép thực hiện không cần chấp thuận, những hoạt động chỉ được thực hiện sau khi có chấp thuận và những hoạt động bị cấm được xác định theo từng nhóm đối tượng, không áp dụng một giới hạn đồng nhất cho tất cả đảng viên. Việc chấp thuận trong nội bộ Đảng cũng không thay thế các điều kiện, trình tự, thủ tục theo pháp luật.

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu quản lý không thể chỉ dựa trên một danh mục cấm chung cho mọi trường hợp. Giới hạn cần tương xứng với quyền hạn, trách nhiệm và mức độ rủi ro của từng vị trí công tác. Người trực tiếp tham gia quyết định, phân bổ nguồn lực hoặc quản lý một lĩnh vực có thể đối mặt với nguy cơ xung đột lợi ích khác với người không có thẩm quyền tác động đến những quyết định ấy. Phân định rõ ràng sẽ giúp quy định đi vào thực chất, vừa bảo vệ kỷ luật công vụ, vừa tránh tạo ra những rào cản không cần thiết đối với hoạt động kinh doanh hợp pháp.

Khuyến khích làm giàu phải đi cùng liêm chính

Trong bài viết “Khuyến khích làm giàu, giữ vững liêm chính”, đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 19/10/2026, TS Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh: “Việc chấp thuận trong nội bộ Đảng không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo pháp luật”. Nguyên tắc này cho thấy hai yêu cầu phải được thực hiện đồng thời: Đảng viên tuân thủ quy định của Đảng và hoạt động đầu tư kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ pháp luật của Nhà nước. Không thể lấy việc đã được chấp thuận trong nội bộ để thay thế nghĩa vụ pháp lý, cũng không thể coi việc hoàn tất thủ tục pháp lý là đủ để bỏ qua trách nhiệm kiểm soát xung đột lợi ích.

Cùng bàn về Quy định số 224-QĐ/TW, Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, nhấn mạnh: “Khuyến khích đảng viên làm giàu hợp pháp, chính đáng phải luôn đi đôi với giữ vững kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật và kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi”. Hai yêu cầu này gặp nhau ở một điểm, cần tạo điều kiện để năng lực kinh doanh phát huy, nhưng không để quyền lực được giao phó bị chuyển hóa thành lợi thế riêng.

Tuy nhiên, một quy định dù chặt chẽ đến đâu cũng chỉ phát huy hiệu quả khi được thực hiện nghiêm túc và nhất quán. Nếu thủ tục chấp thuận chỉ dừng ở việc hoàn thiện hồ sơ, trong khi mối quan hệ lợi ích và nguy cơ xung đột không được xem xét đầy đủ, mục tiêu phòng ngừa sẽ khó đạt được. Ngược lại, nếu các giới hạn bị diễn giải quá rộng hoặc áp dụng máy móc, người có năng lực và ý tưởng kinh doanh chính đáng có thể phải đối mặt với những trở ngại không cần thiết.

Bởi vậy, trách nhiệm thực thi cần được đặt lên hàng đầu. Cơ quan có thẩm quyền phải hướng dẫn rõ những trường hợp cần báo cáo, cần chấp thuận và những hoạt động không được phép; việc xem xét phải dựa trên quy định, có căn cứ và xác định rõ trách nhiệm của người quyết định. Công tác kiểm tra, giám sát cũng cần hướng vào thực chất, không chỉ xem hồ sơ đã đầy đủ hay chưa mà còn phải nhận diện những dấu hiệu cho thấy công vụ và lợi ích kinh tế riêng có thể đang đan xen.

Cùng với đó, bản thân đảng viên tham gia hoạt động kinh doanh phải ý thức rằng quyền và cơ hội luôn đi liền với trách nhiệm. Kinh doanh hợp pháp không chỉ là đáp ứng các điều kiện trên giấy tờ, mà còn đòi hỏi sự minh bạch trong hoạt động, thái độ nghiêm túc trước các nguy cơ xung đột lợi ích và sự chủ động tuân thủ giới hạn gắn với vị trí công tác. Sự liêm chính vì thế không thể chỉ được đánh giá qua những gì đã xảy ra, mà còn thể hiện ở cách mỗi người chủ động tránh những tình huống có thể làm tổn hại đến tính khách quan trong thực thi nhiệm vụ.

Đất nước cần những đảng viên dám nghĩ, dám làm, biết biến tri thức và kinh nghiệm thành sản phẩm, việc làm và giá trị mới. Nhưng sự khuyến khích ấy chỉ có ý nghĩa bền vững khi đi cùng kỷ luật và liêm chính. Làm giàu bằng năng lực có thể tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và xã hội; dùng quyền lực công để giành lợi thế riêng lại làm tổn hại chính môi trường kinh doanh mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng.

Hoài Đức

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/quy-dinh-so-224-qdtw-lam-kinh-te-bang-nang-luc-khong-bang-quyen-luc-post364792.html